vanban.org

Bản án 96/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 19/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Ngô Hồng S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Hồng S 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/8/2022). Giao bị cáo Ngô Hồng S cho Ủy ban nhân dân phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Ngô Hồng S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2022/HS-ST.
Ngày 19 - 8 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương và ông Lê Chí Trung.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhung - Là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2022/HSST -QĐ ngày 05 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Ngô Hồng S, sinh năm 1987 tại Hà Nam; nơi cư trú: Tổ 6, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Xuân H, sinh năm 1960 và bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1959; vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1989; con: có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21/4/2022 đến ngày 29/4/2022 được tại ngoại tại địa phương; hiện đang được tại ngoại tại địa phương theo Lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 2001; trú tại: 28/28 khu YL, phường TH, thành phố TS, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Ngô Xuân H, sinh năm 1960; trú tại: Tổ 6, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Chị Lê Thị Q, sinh năm 1995; vắng mặt.

- Anh Bùi Xuân D, sinh năm 1987; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/4/2022, chị Nguyễn Thị Thúy H nghe tin người yêu là anh Đặng Trần C, sinh năm 1987; trú tại thôn Quan Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đến làm việc tại Công an thành phố Phủ Lý nên đã gọi điện thoại cho anh Bùi Xuân D (bạn của C) để hỏi chuyện. Anh D có nói chuyện của anh C với Lê Thị Q và hỏi Q có biết sự việc trên không thì Q nói để Q đi hỏi và anh D cho Q số điện thoại của chị H để Q tự liên lạc. Q gọi điện thoại cho Ngô Hồng S để nhờ S hỏi hộ C có đang ở Công an thành phố Phủ Lý không thì S nhận lời và hẹn trả lời sau. Qua các mối quan hệ, S biết C đang làm việc tại Công an thành phố Phủ Lý nhưng làm việc về nội dung gì thì S không biết. Đến trưa ngày 07/4/2022, chị H gọi điện cho Q nhờ Q xem có quen ai để xin cho C được tại ngoại nên Q đã cho chị H số điện thoại 0913.394.286 của S để chị H tự liên hệ. Chị H liên hệ với S thông qua tài khoản zalo nhờ S xin tại ngoại cho C. Do thiếu tiền tiêu xài, S nảy sinh ý định lừa chị H nên đã tự nhận mình quen biết với Công an thành phố Phủ Lý có thể xin cho C tại ngoại nhằm tạo lòng tin cho chị H và yêu cầu chị H chuyển khoản cho S số tiền 20.000.000 đồng để S lo giúp việc (thực tế thì C không bị tạm giữ, tạm giam). Chị H không có đủ tiền nên nói với S là chuyển 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) thì S đồng ý. S gửi cho chị H số tài khoản 1018903351 ngân hàng Vietcombank mang tên “HOANG VAN CHAT” và yêu cầu chị H chuyển tiền vào tài khoản này. Khoảng 17 giờ cùng ngày, chị H đã chuyển 15.000.000 đồng đến số tài khoản do S cung cấp. Sau khi nhận được tiền của chị H, S thanh toán tiền xe taxi và chuyển lại số tiền 14.500.000 đồng vào số tài khoản 1009669771 ngân hàng SHB của S rồi tiêu xài cá nhân hết.

* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng của Ngô Hồng S.

Từ nội dung trên, bản cáo trạng số 91/CT-VKS-PL ngày 14/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Ngô Hồng S, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Hồng S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt Ngô Hồng S từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại Ngô Hồng S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng.

- Bị cáo Ngô Hồng S đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện tương tự như bản cáo trạng đã truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Kiểm sát viên đã công bố tại phiên tòa. Bị cáo không tranh luận, không bào chữa gì. Lời nói sau cùng bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố: Những người tiến hành tố tụng này đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện, các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai và quan điểm của họ được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng về diễn biến vụ án cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Ngô Hồng S lợi dụng việc Đặng Trần C bị Công an thành phố Phủ Lý mời lên làm việc (C không bị tạm giữ, tạm giam) đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Thúy H (người yêu C). Ngày 07/4/2022, tại xóm 4, xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý, S đã tự nhận mình quen biết lực lượng Công an lừa chị H là C đang bị Công an thành phố Phủ Lý tạm giữ, muốn được tại ngoại phải chuyển khoản số tiền 15.000.000 đồng. Sau khi nhận được 15.000.000 đồng tiền chị H chuyển khoản, S đã chiếm đoạt số tiền trên để tiêu xài cá nhân.

Hành vi nêu trên của Ngô Hồng S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo như bản cáo trạng và luận tội tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

+ Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi tH toàn bộ thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố mẹ bị cáo đều được tặng thưởng huy chương chiến sĩ vẻ vang, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt

Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo Ngô Hồng S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm giảm uy tín của các cơ quan pháp luật, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo thực hiện bởi lỗi cố ý, thể hiện sự coi tH pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nơi cư trú, có lý lịch rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, sau khi xảy ra vụ việc đã hợp tác khai báo giúp cơ quan tiến hành tố tụng nhanh chóng điều tra xử lý vụ việc. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà vẫn đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm trong cộng đồng.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ngô Hồng S đã tác động gia đình bồi tH cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền 15.000.000 đồng, chị H không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng là tài sản hợp pháp của Ngô Hông S không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.

Về tình tiết khác:

- Đối với anh Bùi Xuân D và Lê Thị Q không biết việc Ngô Hồng S thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Thúy H nên không đồng phạm với S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” trong vụ án này.

- Đối với số tài khoản 1018903351 ngân hàng Vietcombank mang tên “HOANG VAN CHAT”, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định là tài khoản ngân hàng đứng tên anh Hoàng Văn Chất, sinh năm 1995, trú tại thôn Nông Vụ, xã Đại Cương, huyện Kim Bảng; Ngô Hồng S khai đã nhờ anh Chất đứng tên đăng ký mở tài khoản từ năm 2019 hộ S và S sử dụng tài khoản trên từ đó đến nay. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã nhiều lần triệu tập anh Chất nhưng anh Chất không đến vì không có mặt tại địa phương. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu vàng lắp sim điện thoại số 0913394286, S sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên S khai đã làm rơi mất chiếc điện thoại này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành các biện pháp truy tìm vật chứng nhưng không tìm được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban TH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Ngô Hồng S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Hồng S 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/8/2022).

Giao bị cáo Ngô Hồng S cho Ủy ban nhân dân phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về vật chứng:

- Trả lại Ngô Hồng S: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng.

( Tình trạng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liêu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 22/7/2022).

[3] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Ngô Hồng S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ