- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn N chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN ND TP.BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2022/HS-ST Ngày: 17-3-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thái Hoà
2. Ông Nguyễn Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Sỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn N, sinh năm 1998, tại P; Nơi cư trú: Thôn 8, xã N, huyện N, tỉnh Hải Phòng; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Họ tên cha: Hoàng Văn N (còn sống); Họ tên mẹ: Trần Thị V (còn sống); Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2021, hiện đang giam giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phùng Bảo N, sinh năm 2000.
Địa chỉ: C26A, tổ 7, khu phố 5, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Ông Võ Thái S, sinh năm 1996.
Địa chỉ: H19, khu phố 5, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
1. Ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1978.
Địa chỉ: 161 đường Phạm Văn T, khu phố 2, phường T, thành phố H (Vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1993.
Địa chỉ: 45/A1, khu phố 1, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
4. Ông Đào Văn D, sinh năm 1988.
Địa chỉ: 33 lô C, khu phố 2, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
3. Bà Lê Thị H, sinh năm 1973.
Địa chỉ: E12, tổ 10, khu phố 2, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
5. Bà Hoàng Thị Khánh A, sinh năm 1983.
Địa chỉ: 468/15, khu phố 3, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 04/06/2021, tổ công tác phòng chống dịch Covid – 19 phường H – thành phố H gồm: Bà Lê Thị H - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H là Tổ trưởng, ông Nguyễn Văn H - Trưởng trạm y tế phường H là Tổ phó, cùng các thành viên ông Đào Văn D - Chỉ huy Trưởng Ban chỉ huy quân sự phường H, ông Nguyễn Xuân N và ông Nguyễn Hồng S– Công an phường H, ông Phùng Bảo N và ông Võ Thái S – Dân quân tự vệ (mặc trang phục dân quân tự vệ) cùng nhau đến quán bia hơi “Hà Nội 468” tại địa chỉ số 468/15, khu phố 3, phường Tân H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai do bà Hoàng Thị Khánh A, sinh năm 1983, ngụ tại: Số 17, phố K, phường Đ, quận T, thành phố Hà Nội làm chủ cơ sở, để kiểm tra việc chấp hành quy định về phòng chống dịch Covid – 19 theo Chỉ thị 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch COVID-19 và Quyết định số 2772/QĐ-UBND ngày 30/5/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H về việc “Áp dụng biện pháp đặc thù trong thời gian phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn thành phố H.
Khi đến quán bia hơi “Hà Nội 468” tại địa chỉ nêu trên, theo sự phân công của Tổ công tác, ông Đào Văn D, ông Phùng Bảo N và ông Võ Thái S đi vào từ cửa bên hông quán, các thành viên còn lại đi vào cửa chính quán. Ông Phùng Bảo N được phân công sử dụng điện thoại di động cá nhân để ghi hình số người đang ăn, uống trong quán để có căn cứ xử lý vi phạm đối với chủ quán về việc tập trung quá số người theo quy định.
Khi vào quán, ông Phùng Bảo N sử dụng điện thoại quay về phía bàn số 13 có 08 (tám) người khách gồm: Hoàng Văn N, Trần Quang T (thường gọi là Mười T), sinh năm 1989, thường trú tại D59, tổ 16, khu phố 5, phường H, thành phố H), Trần Văn Q (sinh năm 1990, thường trú tại: Thôn 1, xã S, huyện N, thành phố Hải Phòng) và khoảng 05 (năm) người khách (chưa rõ lai lịch). Lúc này, các đối tượng trong bàn của Hoàng Văn N đã đứng dậy không cho ông Phùng Bảo N ghi hình và yêu cầu ông Phùng Bảo N phải xóa đoạn video clip đã quay, nhưng ông Phùng Bảo N không đồng ý và cất điện thoại vào túi quần.
Mặc dù Hoàng Văn N biết rõ ông Phùng Bảo N là người đang thi hành công vụ, nhưng do đã ngấm men rượu nên Hoàng Văn N đã đứng dậy đi lại chỗ ông Phùng Bảo N đứng chửi thề và xông vào dùng tay đánh một cái vào đầu ông Phùng Bảo N một cái trúng mũ bảo hiểm, Văn N tiếp tục dùng tay đánh tiếp theo thì bị các thành viên Tổ công tác can ngăn đẩy ra ngoài. Công an phường H đã lập hồ sơ chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án: không.
Tại bản cáo trạng số: 85/CT-VKSBH ngày 26/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Văn N mức án từ 10 (mười) đến 12 (mười hai) tháng tù giam.
Bị cáo không phát biểu bào chữa cho mình và cũng không yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu khác ngoài những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án ra xem xét tại phiên tòa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong quá trình tạm giam, bị cáo đã ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội. Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.
Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Hoàng Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cụ thể, khoảng 21 giờ 15 phút ngày 04/6/2021, tại quán bia hơi Hà Nội 468, địa chỉ: 468/15, khu phố 3, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai, bị cáo đã có hành vi tụ tập ăn nhậu đông người. Khi Tổ tuần tra công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 phường H, thành phố H đến kiểm tra và phân công anh Phùng Bảo N làm nhiệm vụ quay phim lại hành vi vi phạm của chủ quán, thì bị cáo chửi bới yêu cầu anh N xóa đoạn camera và dùng tay đánh 01 cái vào đầu anh Bảo N trúng mũ bảo hiểm, bị cáo N tiếp tục xông tới để đánh anh Bảo N cản trở việc thi hành nhiệm vụ công thì bị mọi người ngăn cản và đẩy bị cáo N ra khỏi quán.
Bị cáo N đã có hành vi dùng vũ lực để cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ theo chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai tại Quyết định số 5881/UBND-KGVX ngày 30 tháng 5 năm 2021 về việc thực hiện công tác phòng, chống Covid-19 tại địa bàn tỉnh Đồng Nai theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ.
Lời khai nhận của bị cáo N phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai nhân chứng cùng các chứng cứ khác được thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng đã viện dẫn và truy tố. Nhận thấy có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo N đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến hoạt động quản lý xã hội nói chung và hoạt động quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước, làm giảm hiệu lực của cơ quan chức năng và xâm hại đến sức khoẻ của người thi hành công vụ. Bản thân bị cáo đã trưởng thành, nhận thức rõ đồng chí Bảo N đang thực hiện nhiệm vụ theo quy định, nhưng đã không chấp hành mà có hành vi dùng vũ lực để chống đối với người thi hành công vụ. Với mức độ nguy hiểm hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Phùng Bảo N không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về vấn đề khác: Đối với chủ quán là bà Hoàng Thị Khánh A có hành vi vi phạm là “Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ kinh doanh dịch vụ tại nơi công cộng”. Ngày 09/06/2021, Ủy ban nhân dân phường H đã ra Quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/10/2021.
3. Về án phí: Bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Hoàng Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phùng Bảo N vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Tòa án tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND TP. Biên Hòa; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Biên Hòa; - T.H.A Hình sự; - Nhà tạm giữ - CA TP. Biên Hòa; - Chi cục THADS TP. Biên Hòa; - Bị cáo; NCQLNVLQ; - Lưu HS-VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trần Trúc Thủy Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thảo |