- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự sơ thẩm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Lê Văn C 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG -------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2021/HS-ST Ngày: 15/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HOÀ - TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Trường
2. Ông Bùi Thế Hanh
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15/11/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2021/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89a/2021/QĐXX-HSST ngày 22 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo :
Lê Văn C – sinh năm 1973
NĐKNKTT và chỗ ở: thôn Giữa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Dùng - sinh năm 1934 và bà Đặng Thị Quỹ - sinh năm 1934; Vợ: Chu Thị Hương – sinh năm 1974; Bị cáo có ba con: lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2007; Gia đình có 07 anh chị em bị cáo là con thứ sáu;
*Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 01/7/2021 đến ngày 09/7/2021 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú(Có mặt tại phiên tòa).
*Người bị hại:
Anh Hà Văn S – sinh năm 1990(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Giữa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị La Thị T – sinh năm 1994(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Giữa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;
2. Anh Hà Văn B – sinh năm 1981(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Giữa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;
3. Anh Nguyễn Ngọc V – sinh năm 1989(Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố số 3, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;
*Người làm chứng:
1. Anh Hà Văn T – sinh năm 1987(Vắng mặt)
TQ: thôn Giữa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 01/7/2021 khi C đang ở nhà thì cháu Lê Thị Khánh Linh, sinh năm 2007 (là con gái C) mở trang Facebook của cháu Linh cho C xem và nói "Bố ơi thằng S lại đăng bài chửi nhà mình", C nghe và xem thấy S viết bài nói đến tên bố mình là Dùng nên C bực tức và cầm 01 con dao nhọn có tổng chiều dài 27cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 16,5cm, chiều rộng lưỡi dao tại bản rộng nhất là 4,5cm cài vào cạp quần đến nhà anh Lê Văn Sỹ, sinh năm 1967 (là anh trai C) ở cùng thôn để bảo anh Sỹ đến nói chuyện với gia đình S nhưng khi đi qua cửa nhà anh Hà Văn B, sinh năm 1981 ở cùng thôn (là anh ruột anh S) thì C thấy anh B ở bên trong nhà nên đã đi vào gọi anh B ra cửa nói là S đăng bài chửi gia đình mình. Khi gặp anh B, C nói "Chúng mày là anh em thì phải bảo nhau”, anh B nói “mày chả trêu nó thì sao nó lại làm thế”, sau đó C dùng tay tát vào mặt B 01 cái rồi đi về nhà được khoảng 04 đến 05 phút thì C tiếp tục đi bộ lên nhà anh Sỹ. Khi đi được một đoạn, trên đường tỉnh lộ 288 thuộc địa phận thôn Giữa, xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa thì C nhìn thấy anh Hà Văn S đi xe mô tô hướng từ thị trấn Thắng về, (trước đó anh S có nghe chị La Thị T là vợ S thông tin ở nhà xảy ra sự việc cãi nhau). Lúc này S thấy C đang đi bộ nên đỗ xe trên đường đoạn gần cửa nhà S (theo C khai thì S cầm 01 chiếc gậy bằng kim loại dài khoảng 1 m có gắn dao nhọn ở đầu để dọc theo sườn xe phía bên phải rồi lao đến phía C để đánh C), C tiến áp sát vào S đồng thời tay phải C rút con dao để sẵn trong cạp quần ra đâm S 4 nhát vào khu vực vai trái và dưới lưng của S, sau đó C dừng lại không đâm nữa. Lúc này C nhìn thấy anh Hà Văn B và anh Hà Văn T (là anh ruột của S) chạy đến nên C đã bỏ chạy về hướng cánh đồng rồi đi về nhà mình. Anh S được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Hùng Cường, huyện Hiệp Hoà rồi chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang để chữa trị. Đến ngày 26/7/2021 thì ra viện. Ngày 01/7/2021, Lê Văn C đã giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện Hiệp Hòa 01 con dao có tổng chiều dài 27 cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 16,5 cm, chiều rộng lưỡi dao tại bản rộng nhất là 4,5 cm, đầu mũi dao bị khuyết đầu nhọn và trình bày là con dao C đã dùng gây thương tích cho anh S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 4 loại Q7 mầu đen bên ngoài có ốp lưng bằng nhựa; 01 quần sooc mầu ghi; 01 áo phông mầu trắng; 01 áo phông mầu trắng có cổ mầu xanh; Cháu Lê Thị Khánh Linh, sinh năm 2007 (là con gái C) giao nộp 05 tờ giấy A4 có các hình ảnh và nội dung S chửi gia đình C trên Facebook.
Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 06/8/2021 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang xác định anh Hà Văn S vào viện lúc 13 giờ 08 phút ngày 01/7/2021, ra viện lúc 16 giờ 00 phút ngày 26/7/2021 với 02 vết thương vùng vai trái kích thước 02 cm chảy máu, 01 vết thương vùng lưng trái kích thước 05x02 cm, chảy máu nhiều phì phò qua vết thương; 01 vết thương vùng lưng trái kích thước 01 cm chảy máu; CT hình ảnh đụng dập nhu mô, giảm thể tích phổi trái, tràn dịch khí khoang màng phổi trái, gãy các xương sườn 7, 8 bên trái. Ngày 02/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã trưng cầu Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang giám định tỉ lệ thương tích đối với anh Hà Văn S. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 116/21/TgT ngày 02/7/2021 của Trung tâm pháp y bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Thương tích vết thương vai trái kích thước (2x0,1) cm: 01%; Thương tích vết thương vai trái kích thước (1,5x0,1) cm: 01%; Thương tích vết thương vai trái kích thước (4x0,1) cm: 01%; Thương tích vết thương lưng trái kích thước (10x0,1) cm + vết mổ đặt sonde dẫn lưu +CT-Scanner: Hình ảnh đụng dập nhu mô giảm thể tích phổi trái, tràn dịch khí khoang màng phổi trái. Gãy các xương sườn 7-8 bên trái: 12%. Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15% (mười năm phần trăm); Các thương tích do vật sắc nhọn gây nên, không xác định chiều hướng. Ngày 03/8/2021 và ngày 16/8/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang giám định bổ sung xác định con dao do C giao nộp có gây được thương tích như mô tả trong bệnh án của anh S không; xác định tỷ lệ thương tích hiện tại của anh S. Tại bản kết luận giám định bổ sung số 183/21/TgT ngày 09/8/2021 và số 197/21/TgT ngày 23/8/2021 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang kết luận: Con dao gửi giám định gây được thương tích trên người anh S như mô tả trong bệnh án; Thương tích vết sẹo lưng trái kích thước (8x0,3)cm + Vết sẹo mổ ngực trái và sẹo mổ dẫn lưu +sẹo mổ dẫn lưu ngực trái trên đường nách giữa + CT-Scanner: Hình ảnh đụng dập nhu mô giảm thể tích phổi trái, tràn dịch khí khoang màng phổi trái. Gãy các xương sườn 7,8 bên trái+ Xquang ngực thẳng nghiêng : Gãy cung sau xương sườn VII, VIII bên trái. Dày dính màng phổi trái vùng đáy: 25%; Thương tích vết sẹo vai trái kích thước (1,5x0,4) cm:01%; Thương tích vết sẹo vai trái kích thước (2x 0,2) cm: 01%; Thương tích vết sẹo lưng trái kích thước (2,5x0,2) cm: 01%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 27% (hai bẩy phần trăm).
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo vẫn giữ nguyên về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Lê Văn C từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Văn C cho UBND xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang quản lý, giám sát bị cáo trong thời gian bị cáo thi hành án và chấp hành thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cứ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) con dao có tổng chiều dài 27cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 16,5cm, chiều rộng lưỡi dao tại bản rộng nhất là 4,5cm, đầu mũi dao bị khuyết đầu nhọn, dao có một lưỡi và một sống dao (Đã được niêm phong);
- Một túi ni lông màu trắng có chứa một quần sooc màu ghi, 01 áo phông màu trắng; 01 áo phông màu trắng có cổ màu đen (Đã được niêm phong);
* Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
+Trả lại cho bị cáo Lê Văn C 01 điện thoại Redmi Note4 loại Q7 màu đen có ốp lưng bằng nhựa.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo Lê Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa,Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về không gian, thời gian xảy ra vụ án. Điều đó có đủ căn cứ để kết luận bản Cáo trạng số 94/CT – VKSHH ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là đúng người, đúng tội không oan. Khoảng 11 giờ ngày 01/7/2021, Lê Văn C đã có hành vi dùng một con dao bị khuyết đầu nhọn có chiều dài là 27cm chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 16,5cm, chiều rộng lưỡi dao tại bản rộng nhất là 4,5cm đâm bốn nhạt vào vai trái và dưới lưng của anh Hà Văn S. Hậu quả anh S bị thương với tỷ lệ thương tật là 27%. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thường tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Xét thấy Cáo trạng số 94/CT-VKS-AP ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa là hoàn toàn có căn cứ, truy tố đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của Lê Văn C là nguy hiểm cho xã hội bị cáo đã trực tiếp xâm phạm sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ đã làm mất an ninh, trật tự tại địa phương. Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo cũng một phần xuất phát từ lỗi của anh Hà Văn S. Trước đó do hai bên có mâu thuẫn về việc sinh hoạt hàng ngày anh S đã thể hiện sự bức xúc của mình trên trang fabook cá nhân – chứng cứ đã được thu thập in ra từ trang cá nhân của anh S, bị cáo C do bực tức đã cầm dao đi tìm anh S nhưng khi gặp nhau thì anh S cũng cầm gậy để đánh nhau với bị cáo (Hành vi này của anh S cũng đã bị xử lý hành chính vì đánh nhau với C). HĐXX xét thấy, việc xô xát của bị cáo C và anh S xuất phát từ sinh hoạt hàng ngày, bị cáo do không kìm chế được bản thân nên có hành vi gây thương tích cho anh S chứ không phải mang tính chất côn đồ hay chuyên nghiệp gì cả. Bản thân bị cáo là người lao động bình thường tại địa phương. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cho bị cáo cần xem xét và mở lượng khoan hồng của pháp luật cho bị cáo để vừa răn đe và cũng để giáo dục bị cáo trong cuộc sống hàng ngày là có căn cứ.
Xét về mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị, HĐXX thấy là tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, HĐXX cần phân tích đánh giá như sau:
- Xét Về nhân thân: Bị cáo Lê Văn C có nhân thân tốt ;
- Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Sau phút nóng giận không kiểm soát được của bản thân bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình đã tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường kịp thời và thỏa thuận bồi thường cho bị hại thỏa đáng. Bị hại có đơn bãi nại và xác nhận đã nhận đầy đủ tiền bồi thường của bị cáo, bị cáo có bố đẻ là ông Lê Văn Dùng được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo là có căn cứ. HĐXX xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và chỗ ở ổn định nên với mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần cho bị cáo có cơ hội sửa chữa bản thân và lao động kinh tế cho gia đình thì không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tính răn đe nghiêm khắc đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: anh S đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo C và anh S cũng đã xác nhận ngày 19/10/2021, anh S đã nhận bồi thường từ bị cáo C số tiền là 190 triệu đồng và xác nhận là không yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh khoản tiền nào khác nữa. Do việc bồi thường dân sự anh S tự nguyện không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) con dao có tổng chiều dài 27cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 16,5cm, chiều rộng lưỡi dao tại bản rộng nhất là 4,5cm, đầu mũi dao bị khuyết đầu nhọn, dao có một lưỡi và một sống dao (Đã được niêm phong);
- Một túi no lông màu trắng có chứa một quần sooc màu ghi, 01 áo phông màu trắng; 01 áo phông màu trắng có cổ màu đen (Đã được niêm phong);
* Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
+Trả lại cho bị cáo Lê Văn C 01 điện thoại Redmi Note4 loại Q7 màu đen có ốp lưng bằng nhựa.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo Lê Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Lê Văn C 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Văn C cho UBND xã Đoan Bái, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang quản lý, giám sát bị cáo trong thời gian bị cáo thi hành án và chấp hành thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cứ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) con dao có tổng chiều dài 27cm, chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài 16,5cm, chiều rộng lưỡi dao tại bản rộng nhất là 4,5cm, đầu mũi dao bị khuyết đầu nhọn, dao có một lưỡi và một sống dao (Đã được niêm phong);
- Một túi ni lông màu trắng có chứa một quần sooc màu ghi, 01 áo phông màu trắng; 01 áo phông màu trắng có cổ màu đen (Đã được niêm phong);
* Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
+Trả lại cho bị cáo Lê Văn C 01 điện thoại Redmi Note4 loại Q7 màu đen có ốp lưng bằng nhựa.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Nguyễn Xuân Trường Bùi Thế Hanh
Hoàng Thị Hương Lan
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc giang; - VKSND huyện Hiệp Hòa; - Cơ quan điều tra Hiệp Hòa; - Cơ quan THA hình sự Hiệp Hòa; - Chi cục THA DS huyện Hiệp Hòa; - Người bị hại; - Bị cáo. - Lưu. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hương Lan |