vanban.org

Bản án 96/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/05/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Hồ Quỳnh T cho Ủy ban nhân dân xã Q1, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Hồ Quỳnh T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Hồ Quỳnh T không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Quỳnh T phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản" - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Hồ Quỳnh T cho Ủy ban nhân dân xã Q1, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số 96/2021/HS-PT
Ngày 28 - 5 - 2021
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hà.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn và bà Nguyễn Thị Hải Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 11/2021/TLPT-HS ngày 05 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo Hồ Quỳnh T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 502/2020/HS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Bị cáo có kháng cáo: Hồ Quỳnh T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02 tháng 7 năm 1993 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn 5, xã Q1, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Quỳnh D và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Trần Thị H1 và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11 tháng 6 năm 2020 đến ngày 20 tháng 6 năm 2020 được trả tự do; có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: Xóm 8, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án có bị cáo Nguyễn Phong V không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến tham gia phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua trang mạng xã hội, biết chị Phạm Thị H có nhu cầu mua đất nên chị Trần Thị G là nhân viên của Công ty V đã giới thiệu cho chị H liên hệ với anh Nguyễn Phong V là người làm cùng công ty của chị G để đi xem một lô đất tại xã H, thành phố V. Quá trình giao dịch, xem đất thấy nhiều tiền nên chị H không tiến hành làm hợp đồng với công ty của anh V nữa. Sau khi anh V Văn S là chồng chị H thông qua Công ty J cùng mua lô đất trên với giá rẻ hơn nên anh S, chị H thống nhất mua, làm hợp đồng và đặt cọc 20.000.000 đồng. Khi biết được thông tin trên, sáng ngày 09 tháng 6 năm 2020, Hồ Quỳnh T là Giám đốc Công ty V đi cùng anh Nguyễn Phong V, anh Hồ Quốc Q và anh Trịnh Quốc T đều là nhân viên của công ty đến nhà chị H để đòi tiền chi phí môi giới nhưng không gặp chị H. Bị cáo T và bị cáo V gặp anh S (chồng của chị H) yêu cầu trả tiền môi giới nhưng anh S không đồng ý nên bị cáo T và V đi về.

Chiều ngày 09 tháng 6 năm 2020, bị cáo T, V và Trần Thị H1 (vợ của bị cáo T) hẹn và gặp chị H ở quán cà phê xã H và yêu cầu chị H trả tiền phí môi giới 20.000.000 đồng nhưng chị H không đồng ý. Sáng ngày 10 tháng 6 năm 2020, T và V đến trước cổng cơ quan của chị H làm việc là Trung tâm K tại Số 140, Đường L, thành phố V, dùng điện thoại gọi, nhắn tin với mục đích nếu chị H không trả tiền sẽ nói xấu, làm mất uy tín, danh dự của chị H nhưng chị H không đồng ý. Trưa ngày 11 tháng 6 năm 2020, T và V tiếp tục đến trước cổng cơ quan chị H để đòi tiền, do lo sợ nên chị H hẹn gặp, thống nhất giao tiền ở quán nước trước cổng cơ quan vào khoảng 05 giờ chiều và phải có mặt chị G là người môi giới chứng kiến. Đúng hẹn, Hồ Quỳnh T và chị Trần Thị G đến gặp chị H, chị H xin giảm còn 15.000.000 đồng, T đồng ý. Khi hai bên đang giao nhận tiền thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ số tiền 15.000.000 đồng trên tay của bị cáo T.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 502/2020/HS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hồ Quỳnh T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Quỳnh T 13 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11 tháng 6 năm 2020 đến ngày 20 tháng 6 năm 2020. Ngoài ra, Bản án còn tuyên phạt bị cáo V 12 tháng tù cho hưởng án treo, tuyên án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo, người bị hại trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14 tháng 10 năm 2020, bị cáo Hồ Quỳnh T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do: Bị cáo phạm tội chưa có tiền án, tiền sự; từ trước đến nay, luôn chấp hành pháp luật, chính sách Nhà nước. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã nhận ra khuyết điểm và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, giúp cơ quan chức năng sớm làm sáng tỏ vụ án. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khắc phục hậu quả cho người bị hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ông nội của bị cáo (ông Hồ Quỳnh Cư) và ông ngoại của bị cáo (ông Nguyễn Đình Phụng) có công được tặng thưởng Huân chương và huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hồ Quỳnh T giữ nguyên nội dung kháng cáo và có xuất trình thêm đơn trình bày của chị Phạm Thị H về việc đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo T và giấy khen của Ủy ban nhân dân xã Q ngày 05 tháng 02 năm 2021 vì bị cáo đã có thành tích trong công tác phòng chống pháo nổ. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận cho bị cáo được hưởng khoan hồng, cải tạo tại địa phương, trở thành người có tích cho gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa xét thấy bị cáo Hồ Quỳnh T kháng cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Quỳnh T, sửa bản án sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Quỳnh T 13 tháng tù và cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời gian thử thách 26 tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Bị cáo Hồ Quỳnh T không tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hồ Quỳnh T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản án sơ thẩm xét xử. Trong ngày 10 và ngày 11 tháng 6 năm 2021, bị cáo đã có hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần của chị Phạm Thị H để cưỡng đoạt số tiền 15.000.000 đồng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản, ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc của người bị hại, gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Hồ Quỳnh T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội, ông ngoại là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng huân huy chương là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm đơn trình bày của chị Phạm Thị H về việc đề nghị giảm nhẹ cho bị cáo T và giấy khen của Ủy ban nhân dân xã Q1 ngày 05 tháng 02 năm 2021 vì bị cáo đã có thành tích trong công tác phòng chống pháo nổ là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của Chính quyền địa phương là cũng đủ nghiêm. Do đó, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

[3] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Quỳnh T, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Quỳnh T 13 (Mười ba) tháng tù và cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời gian thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Hồ Quỳnh T cho Ủy ban nhân dân xã Q1, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Hồ Quỳnh T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Hồ Quỳnh T không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ