- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2021/HNGĐ-ST Ngày 27/10/2021 V/v tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Phước;
2. Ông Phan Minh Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 139/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2021 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2021 và thông báo mở lại phiên tòa số: 279/TB.TA ngày 24 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị H.T.H, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Ấp Hòa Thới, xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Anh L.H.H, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Ấp Hòa Thới, xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị H.T.H trình bày như sau: Chị và anh L.H.H từ tìm hiểu và quen nhau đi đến chung sống với nhau vào năm 2012, không có tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện lần thứ nhất, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Ủy ban nhân dân xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ngày 11 tháng 9 năm 2019.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 10/2020 tới nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm đến vợ con, kinh tế trong gia đình không phụ tiếp, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H.
Do tình hình dịch Covid - 19 diễn ra phức tạp nên việc đi lại khó khăn nên chị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa khi vụ án được đưa ra xét xử.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hai lần triệu tập hợp lệ anh H đến để tiến hành hòa giải nhưng anh H vắng mặt không có lý do và không có lời khai hay ý kiến nên Tòa án không ghi nhận được quá trình hôn nhân, con chung, tài sản cũng như ý kiến của anh H đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xem xét, quyết định. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H được ly hôn anh H. Về con chung: Giao cháu H.T.H.N, sinh ngày 17/5/2013 cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Chị H yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Chị H.T.H (là nguyên đơn trong vụ án) có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh L.H.H (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên Toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị H và anh H kết hôn với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang ngày 11/9/2019 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng chị H và anh H phát sinh mâu thuẫn, chị H xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Trong quá trình hôn nhân, chị H cho rằng do tình tính không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh H thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm đến vợ con, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Tòa án đã triệu tập anh H để tham gia phiên hòa giải nhưng anh H cố tình vắng mặt và không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị H thể hiện anh H không muốn hàn gắn. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 10/2020 cho đến nay. Xét thấy, hôn nhân giữa chị H và anh H thực tế đã không còn tồn tại, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị H được ly hôn với anh H.
Về con chung:
Chị H xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng anh chị có 01 con chung tên H.T.H.N, sinh ngày 17/5/2013, hiện nay đang sinh sống với chị H. Sau ly hôn, chị H yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Nhung đang sống với chị H, thời gian ly thân cháu Nhung được chị H chăm sóc tốt, phát triển bình thường và cháu Nhung cũng có nguyện vọng được sống với chị H. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu Nhung, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu Nhung, giúp cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu Nhung cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, tuy nhiên chị H không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Chị H phải tạo điều kiện cho anh H được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị H không tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa chị H và anh H có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 8, 9, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H.T.H.
* Về hôn nhân: Chị H.T.H được ly hôn với anh L.H.H.
(Giấy chứng nhận kết hôn số 84/2019 do Ủy ban nhân dân xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cấp ngày 11/9/2019 cho chị H.T.H và anh L.H.H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).
* Về con chung: Giao cháu H.T.H.N, sinh ngày 17/5/2013 cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị H không có yêu cầu.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
* Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa chị H và anh H có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.
* Về án phí sơ thẩm: Chị H.T.H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008314 ngày 15 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Anh L.H.H không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Chị H và anh H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND h.Thoại Sơn; - Chi cục THADS h.Thoại Sơn; - UBND xã Định Thành; - Các đương sự (Để thi hành); - Lưu VP, HS; - TAND tỉnh An Giang; HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Mai Thị Vân THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Vân |