- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2021/HNGĐ - ST Ngày: 25 - 5 - 2021 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Phương.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lương Đức và ông Nguyễn Tiến Nam.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Tuấn Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trưởng - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 60/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2021/QĐXX - ST ngày 27 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1991.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trúy tại: Thôn L, xã K, huyện P, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
2. Bị đơn:
Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn L, xã K, huyện P, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:
Chị với anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau từ tháng 11 năm 2012 là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện P, Thành phố Hà Nội. Sau khi khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại thôn L, xã K, huyện P, Thành phố Hà Nội. Sau một thời gian chung sống đến đầu năm 2017 vợ chồng bộc lộ sự không hòa hợp về tính cách, đặc biệt là bất đồng trong cuộc sống, trong sinh hoạt gia đình, trong công việc, trong làm ăn kinh tế mỗi người một chí hướng, không tìm được tiếng nói chung, không có sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, từ đó thường xuyên xảy ra to tiếng cãi vã, xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn đã trầm trọng nên vợ chồng đã tự sống ly thân nhau từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức... nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 17/7/2013 hiện đang ở cùng anh T; ly hôn chị đề nghị để anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và xin tạm miễn cấp dưỡng nuôi con chung do điều kiện kinh tế của chị khó khăn, công ăn việc làm, chỗ ở không ổn định.
Về tài sản chung vợ chồng: Không có nên anh không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về công nợ chung vợ chồng: Không có nên anh không yêu cầu Tòa giải quyết
Phía bị đơn anh Nguyễn Văn T:
Mặc dù đã nhiều lần được triệu tập đến Tòa làm việc cũng như triệu tập phiên tòa hợp lệ nhưng anh T đều vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã K, huyện P và làm việc với bố đẻ của anh T là ông Nguyễn Văn H1...qua xác minh, làm việc, xác định sau khi ly thân với chị H một thời gian, anh T ra ngoài làm ăn. Tại thời điểm giải quyết vụ án, anh T có Hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã K, huyện P, Thành phố Hà Nội và vẫn thường xuyên liên lạc, đi về nhà ông H1.
Quan điểm của UBND xã K là đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh T để giải phóng cho cả hai bên; về con chung đề nghị giao cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung do phía chị H không có công việc làm và chỗ ở ổn định.
Đại diện VKSND tham gia phiên toà xác định:
Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thu thập chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng; Đương sự vắng mặt đã được Tòa án tạo mọi điều kiện để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự; Đương sự có mặt đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà...
Do mâu thuẫn đã trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị H và áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình xử: Cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T; về con chung giao anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 17/7/2013 và tạm miễn cấp dưỡng nuôi con cho chị H; về tài sản chung, công nợ chung không xem xét trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự và quan điểm của Đại diện VKSND, HĐXX nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ kiện Hôn nhân và gia đình tranh chấp về ly hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn T vẫn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã K, huyện P; quá trình Tòa án thu thập chứng cứ xác minh tại UBND xã K và làm việc với ông Nguyễn Văn H1 (là bố của anh Nguyễn Văn T) cho thấy anh T ra ngoài làm ăn nhưng vẫn thường xuyên liên lạc, đi về gia đình. Tòa án cũng nhiều lần triệu tập, giao các văn bản tố tụng cho anh T thông qua ông Nguyễn Văn H1, phía ông Hiểu khẳng định đã giao và thông báo lại cho anh T giấy triệu tập cùng các văn bản tố tụng của Tòa án. Vì vậy TAND huyện P thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bị đơn anh Nguyễn Văn T: Quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt nên việc xét xử vắng mặt anh T là đúng quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn T là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện P, Thành phố Hà Nội (Đăng ký kết hôn số 91 ngày 19/11/2012). Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn nhiều năm kể từ đầu năm 2017 do bất đồng quan điểm trong cuộc sống cộng với tính cách không hòa hợp mỗi bên, không tôn trọng, tin tưởng nhau trong cuộc sống, từ đó nảy sinh những xung đột mà đỉnh điểm mâu thuẫn vợ chồng từ tháng 10/2017 khiến cả hai tự sống ly thân, chấm dứt mối quan hệ tình cảm vợ chồng cho đến nay. Về phía anh T đã được Tòa án triệu tập làm việc, hòa giải nhiều lần song đều không đến Tòa làm việc đã thể hiện thái độ bỏ mặc, không mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã đến mức trầm trọng bởi tình cảm vợ chồng thực sự không còn do thời gian mâu thuẫn, sống ly thân đã lâu, đời sống vợ chồng không có cơ hội hàn gắn bởi từ hai phía đều không ai mong muốn đoàn tụ, mục đích hôn nhân là hạnh phúc gia đình vì thế không đạt được, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, không còn ý nghĩa….Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của chị H về ly hôn anh T là có căn cứ, nên áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị H ly hôn anh T.
Về con chung: Chị H, anh T có một con chung là Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 17/7/2013.
Hội đồng xét xử thấy kể từ khi vợ chồng ly thân đến nay cháu N do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; nguyện vọng của cháu N được tiếp tục ở cùng anh T; mặt khác phía chị H có quan điểm đề nghị để anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và xin tạm miễn cấp dưỡng nuôi con chung do điều kiện kinh tế của chị khó khăn, công ăn việc làm, chỗ ở không ổn định; về phía chính quyền UBND xã K cũng thể hiện quan điểm cần giao cháu N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng do phía chị H không có công việc và chỗ ở ổn định. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cũng như tính ổn định trong sự phát triển của con chung và trên cơ sở nguyện vọng của con chung, cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và tạm miễn cấp dưỡng việc cấp dưỡng nuôi con cho chị H do phía chị H có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, công việc và chỗ ở không ổn định
Về tài sản chung, công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án do anh T không đến Tòa làm việc nên chưa có đầy đủ căn cứ xác định được tài sản chung, công nợ chung của chị H, anh T; để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt nên phần tài sản, công nợ chung cần tách ra chưa xét trong vụ án này và sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có tranh chấp phát sinh.
Về án phí: Nguyên đơn chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị H và bị đơn anh T có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, ĐIều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung của chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn T là Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 17/7/2013 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Tạm miễn cho chị Bùi Thị H việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Chị Bùi Thị H có quyền thăm nom chon chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006076 ngày 24/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P. Chị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành an được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện P; - VKSND TP Hà Nội; - Chi cục THADS huyện P; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Lê Anh Phương |