- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Trần Thị Tuyết Kim với ông Hồ Văn Thuận"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2021/HNGĐ-ST Ngày: 25-11-2021 V/v Ly hôn giữa bà K và ông T. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Sơn
Ông Nguyễn Hoàng Tiến
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên
tòa: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2021/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng
5 năm 2021 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
173/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2021 và Quyết định Hoãn
phiên tòa số 157/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2021 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà T T T K, sinh ngày 09-9-1987 (vắng mặt, có đơn xin
xét xử vắng mặt ngày 27-10-2021)
Nơi cư trú: Tổ 15, ấp B H 2, xã B M, huyện C P, tỉnh An Giang.
2.Bị đơn: Ông H V T, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ 3, ấp C T, xã C Đ, huyện C T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Bản tự khai ngày 16-4-2021; Biên bản lấy lời
khai ngày 23-6-2021 và Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 27-10-2021, nguyên đơn
bà T T T K trình bày:
+Về hôn nhân: Bà và ông H V T kết hôn năm 2007, hôn nhân do mai mối,
có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã C Đ, huyện C T, tỉnh An Giang số 316 ngày 14-12-2009. Sau khi cưới vợ chồng sống bên chồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong sống, bà không hòa hợp được với gia đình bên chồng, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong xử lý chuyện nội bộ gia đình, dẫn đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng, không còn tôn trọng nhau, không tin tưởng nhau, nên vợ chồng luôn bất hòa, gia đình không êm ấm. Từ tháng 02/2011 bà bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông T, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin ly hôn với ông H V T.
+Về con chung: Có 02 con chung tên H T L, sinh ngày 01-01-2007; và H V
K, sinh ngày 10-11-2009. Hiện ông T đang nuôi con. L, k hiện đã nghỉ học. Nếu ly hôn bà đồng ý để ông T được tiếp tục nuôi con.
+Về cấp dưỡng nuôi con: Bà không cấp dưỡng nuôi con.
+Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2
lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông H V T, nhưng ông T vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Ngày 20-6-2021 và ngày 06-7-2021, Tòa án đến nhà ông T để ghi lời khai, nhưng ông T vắng mặt tại nhà. Do đó, Tòa án không nhận được ý kiến của ông T.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06-7-2021, cháu H T L, sinh ngày 01-01-
2007 trình bày: Ba cháu tên H V T, mẹ cháu tên T T T K. Cháu học lớp 7 trường Trung học cơ sở C Đ, đầu năm 2021 cháu đã nghỉ học, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không đủ điều kiện để cháu đi học. Ba cháu đi làm ăn xa nhưng cháu không biết rõ ở đâu, lâu lâu ba có gọi điện thoại về thăm cháu, cả năm nay rồi ba cháu không về thăm cháu. Mẹ cháu không về thăm cháu, cháu không biết mặt mẹ cháu, mẹ cháu bỏ cháu sống với ba từ nhỏ. Em cháu tên H V K, sinh ngày 10-11-2009, em cháu đang sống với ba. Nếu ba mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sống với ba.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát
biểu quan điểm như sau:
1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét
xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.
2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung tiếp tục ổn định cho ông T nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn bà T T T K, bị đơn ông H V T,
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn
phiên tòa; nguyên đơn bà K có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông T vẫn vắng
mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự,
Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với
nguyên đơn bà K và bị đơn ông T.
[2] Về hôn nhân: Bà T T T K và ông H V T kết hôn năm 2007, hôn nhân do
mai mối, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã C Đ, huyện C
T, tỉnh An Giang số 316 ngày 14-12-2009 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật
bảo vệ. Bà K có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để
hàn gắn lại tình cảm giữa bà K và ông T, nhưng ông T nhiều lần vắng mặt nên
không hòa giải được.
Xét thấy: Từ năm 2011, giữa bà K và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn, do
bất đồng trong sống, bà K không hòa hợp được với gia đình bên chồng, vợ
chồng không tìm được tiếng nói chung trong xử lý chuyện nội bộ gia đình, dẫn
đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng, không còn tôn trọng nhau, không tin
tưởng nhau, nên vợ chồng luôn bất hòa, gia đình không êm ấm, dẫn đến vợ
chồng sống ly thân từ tháng 02/2011 cho đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay
cả bà K và ông T đều không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều
này cho thấy mâu thuẫn giữa bà K và ông T là trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đối chiếu với quy định của
pháp luật tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội
đồng xét xử xét thấy nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà K được ly hôn
với ông T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Bà T T T K và ông H V T có 02 con chung, hiện ông T
đang nuôi con. Khi ly hôn bà K đồng ý để ông T được tiếp tục nuôi con. Ông T
không có ý kiến.
Xét thấy: Cháu L đã trên 15 tuổi và cháu K đã 13 tuổi, hiện đang sống với
ông T. Cháu L có nguyện vọng sống với ông T, còn cháu K hiện đang theo ông
T đi làm ăn xa. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống
cũng như sự phát triển tâm sinh lý của cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để
cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà K không cấp dưỡng nuôi con. Ông T không
có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà K trình bày không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết. Ông T không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem
xét.
[6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147
của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nguyên đơn bà T T T K phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0007299 ngày 13-5-2021 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271
và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn bà K, bị đơn ông T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
Các Điều 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14
ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Xử:
[1] Về hôn nhân: Bà T T T K được ly hôn với ông H V T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 316 ngày 14-12-2009 của UBND xã C Đ,
huyện C T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung: Ông H V T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên H
T L, sinh ngày 01-01-2007 và H V K, sinh ngày 10-11-2009.
Ông H V T và các thành viên trong gia đình ông T không được cản trở bà T
T T K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà T T T K lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu
đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông T có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của bà K theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về án phí: Nguyên đơn bà T T T K phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân
gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0007299 ngày 13-5-2021 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà T T T K, bị đơn ông H V T vắng
mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Các đương sự (để thi hành); -Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; -Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành; -Phòng Kiểm tra Nghiệp vụ - Thi hành án, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; -Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn (UBND xã Cần Đăng, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; -Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |