vanban.org

Bản án 96/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Trúc T. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Trúc T và anh Đặng Thanh H

Giấy chứng nhận kết hôn số: 78/KH, ngày 10/6/2015 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Về nuôi con chung: Chị Trần Thị Trúc T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đặng Hoàng M, sinh ngày 19/2/2019 và Đặng Thanh H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đặng Huy H sinh ngày 9/8/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Trúc Thọ yêu cầu ly hôn với anh Đặng Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Trúc T. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Trúc T và anh Đặng Thanh H
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 21-04- 2020
V/v tranh chấp ly hôn,
tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH,TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phan Văn Dân

2/ Bà Mai Hồng Thắm

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

-Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em- Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 453/2019/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 5 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Trần Thị Trúc T, sinh năm: 1996 (Có mặt)

Địc chỉ: Tổ 43, ấp B, xã A, huyện C,tỉnh An Giang

Hiện cư ngụ: Số nhà 109/23, đường Nguyễn Văn T, Hẻm C, phường C, Tp. Châu Đ, tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Anh Đặng Thanh H, sinh năm: 1992 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 43, ấp B, xã A, huyện C,tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ N

Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 12/11/2019, nguyên đơn chị Trần Thị Trúc T trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Thanh H kết hôn với nhau vào năm 2011, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện C, An Giang. Thời gian đầu sau khi kết hôn chị và anh H chung sống với cha mẹ chồng, vợ chồng sống hạnh phúc được hơn 5 năm thì phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng trong cuộc sống, anh H sinh ra có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bỏ bê gia đình vợ con, chị đã nhiều lần tha thứ nhưng vẫn không thay đổi được. Từ đó dẫn đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng không tôn trọng nhau, không còn tin tưởng nhau, cuộc sống luôn bất hòa gia đình không còn êm ấm hạnh phúc. Từ tháng 3/2019, vợ chồng anh chị ly thân cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng bị rạn nứt do mâu thuẫn ngày càng nhiều, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị yêu cầu ly hôn với anh Đặng Thanh H.

- Về con chung: có 02(hai) con chung tên: Đặng Huy H, sinh ngày 9/8/2012 và Đặng Hoàng M, sinh ngày 19/2/2019. Hiện cháu Đặng Huy H đang sống với cha và ông bà nội. Còn cháu Đặng Hoàng M đang sống với chị T. Sau ly hôn chị đồng ý giao cháu H cho anh H nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Chị đồng ý nuôi cháu M , chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đặng Thanh H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đặng Thanh H vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị T. Tòa án cũng tiến hành xác minh lại sự vắng mặt của anh H tại địa phương. Qua xác minh tại địa phương thì anh Hhiện nay hộ khẩu thường trú vẫn ở tổ 43, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang, nhưng anh H vắng mặt tại nhà nên không lấy lời khai lại được.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan.Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T ly hôn với anh H. Về con chung: Đề nghị giao cháu H cho anh H nuôi dưỡng, cháu M cho chị T nuôi dưỡng. Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Đặng Thanh H là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Đặng Thanh H theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Trúc T và anh Đặng Thanh H kết hôn với nhau vào năm 2011, hôn nhân do quen biết, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện C,tỉnh An Giang. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo đơn chị T trình bày thời gian đầu sau khi kết hôn chị và anh H chung sống với cha mẹ chồng, vợ chồng sống hạnh phúc được hơn 5 năm thì phát sinh mâu thuẩn, do bất đồng trong cuộc sống, anh H sinh ra có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bỏ bê gia đình vợ con, chị đã nhiều lần tha thứ nhưng vẫn không thay đổi được. Từ đó dẫn đến bất đồng trong tình cảm vợ chồng không tôn trọng nhau, không còn tin tưởng nhau, cuộc sống luôn bất hòa gia đình không còn êm ấm hạnh phúc. Từ tháng 3/2019, vợ chồng anh chị ly thân cho đến nay. Xét thấy với thời gian ngắn chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẩn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng ngày càng thêm mâu thuẩn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng anh H cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc xin ly hôn của chị T. Hiện tại chị T xác định không còn tình cảm với anh H , Tại tòa chị vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị T và anh H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại điều 56 của luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[2.2]Về con chung: có 02(hai) con chung tên: Đặng Huy H, sinh ngày 9/8/2012 và Đặng Hoàng M, sinh ngày 19/2/2019. Hiện cháu Đặng Huy H đang sống với cha và ông bà nội. Sau ly hôn chị đồng ý giao cháu H cho anh H nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Chị đồng ý nuôi cháu M, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 26/3/2020 cháu H cũng có nguyện vọng sống với anh H, cuộc sống của cháu cũng ổn định. Còn đối với cháu M từ nhỏ đến nay cháu sống với chị T, được chị chăm sóc cuộc sống hiện tại tương đối ổn định. Do đó để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của các cháu, nghĩ nên để anh H được tiếp tục nuôi cháu H và chị T được cháu Mỹ là phù hợp. Chị T thì không cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Còn anh H thì không có ý kiến. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, dành cho anh H quyền khởi kiện cấp dưỡng nuôi con trong vụ kiện khác khi anh H có yêu cầu. Anh H và chị T phải tạo điều kiện thuận lợi cho nhau được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi anh, chị thực hiện quyền này.

[2.3] Về tài sản và nợ chung: Chị Trần Thị Trúc T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về án phí: Do yêu cầu của Chị Trần Thị Trúc T được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các điều 9, 53, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Trúc T. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Trúc T và anh Đặng Thanh H

Giấy chứng nhận kết hôn số: 78/KH, ngày 10/6/2015 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về nuôi con chung: Chị Trần Thị Trúc T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đặng Hoàng M, sinh ngày 19/2/2019 và Đặng Thanh H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đặng Huy H sinh ngày 9/8/2012. Chị Trần Thị Trúc T không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành cho anh H quyền khởi kiện cấp dưỡng nuôi con trong vụ kiện khác khi anh H có yêu cầu. Anh H và chị T phải tạo điều kiện thuận lợi cho nhau được quyền tới lui chăm sóc cháu H và cháu M, không ai được cản trở khi anh, chị thực hiện quyền này.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Trần Thị Trúc T trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Trúc T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006609ngày 12/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

5. Về kháng cáo: Chị Trần Thị Trúc T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 21/4/2020). Anh Đặng Thanh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ