vanban.org

Bản án 96/2020/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị O.

Buộc anh Phạm Chí L và chị Thang Thị Đ trả cho bà Phạm Thị O số tiền nợ hụi 43.500.000đ (bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). Kể từ ngày bà Phạm Thị O có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Phạm Chí L và chị Thang Thị Đ chậm thi hành đối với khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng anh L, chị Đ còn phải c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà Phạm Thị O khởi kiện anh Phạm Chí L và chị Thang Thị Đ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị O.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2020/DS-ST
Ngày 09 - 9 - 2020
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Trường

Ông Châu Hải Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 09 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 278/2020/TLST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2020 về việc “tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 363/2020/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị O, sinh năm 1966; cư trú tại: Ấp TK, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn:

1. Anh Phạm Chí L; cư trú tại: Ấp TK, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Chị Thang Thị Đ; cư trú tại: Ấp TK, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Phạm Thị O trình bày:

Bà có tham gia dây hụi 1.000.000đ mở ngày 16/01/2018al do anh L, chị Đ làm chủ. Dây hụi gồm có 32 chưng, bà tham gia 01 chưng, đã đóng được 21 lần thì ngưng do anh L, chị Đ bỏ địa phương đi. Dây hụi này, anh L, chị Đ còn nợ 21.000.000đ.

Ngoài ra, bà có tham gia dây hụi tuần 300.000đ mở ngày 10/3/2019al do anh L, chị Đ làm chủ. Dây hụi gồm có 50 chưng, bà tham gia 03 chưng, đã đóng được 30 lần thì ngưng. Dây hụi này, anh L, chị Đ còn nợ 27.000.000đ.

Tại đơn khởi kiện, bà yêu cầu anh L và chị Đ trả số tiền hụi 48.000.000đ.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà O yêu cầu anh L, chị Đ trả số tiền nợ hụi 43.500.000đ (dây hụi 1.000.000đ mở ngày 16/01/2018 al yêu cầu trả số tiền 19.500.000đ, dây hụi mở ngày 10/3/2019al yêu cầu trả số tiền 24.000.000đ).

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Phạm Chí L và chị Thang Thị Đ nhưng anh chị vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến giải trình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Phạm Chí L và chị Thang Thị Đ đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà O, anh L, chị Đ là phù hợp.

Về nội dung:

Đối với yêu cầu trả tiền nợ hụi của bà O, thấy rằng: Tại đơn khởi kiện, bà O yêu cầu anh L, chị Đ trả số tiền nợ hụi 48.000.000đ, tuy nhiên tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà O chỉ yêu cầu trả số tiền nợ hụi 43.500.000đ. Xét thấy, việc bà O thay đổi yêu cầu khởi kiện là tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Xét yêu cầu trả tiền nợ hụi 43.500.000đ của bà O, thấy rằng: Theo danh sách hụi viên mở ngày 16/01/2018 al và các xác nhận của bà Phạm Thị N, bà Diệp Thị Đ, bà Phạm Kim T, bà Dương Thị N và ông Trần Văn N (là những hụi viên trong dây hụi mở ngày 16/01/2018 al và dây hụi mở ngày 10/3/2019 al), Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định, bà O có tham gia một chưng hụi trong dây hụi 1.000.000đ mở ngày 16/01/2018 al và tham gia 03 chưng hụi trong dây hụi mở ngày 10/3/2019 al do anh L, chị Đ làm chủ. Theo bà O xác định đối với dây hụi mở ngày 16/01/2018 al, bà đã đóng được 21 lần hụi sống, đối với dây hụi mở ngày 10/3/2019 al, bà đóng được 30 lần hụi sống nên yêu cầu anh L, chị Đ trả số tiền nợ 43.500.000đ. Đối với anh L, chị Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng không phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định anh L, chị Đ còn nợ bà Oanh số tiền 43.500.000đ.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà O. Buộc anh L, chị Đ trả cho bà O số tiền nợ hụi 43.500.000đ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà O không phải chịu. Anh L, chị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị O.

Buộc anh Phạm Chí L và chị Thang Thị Đ trả cho bà Phạm Thị O số tiền nợ hụi 43.500.000đ (bốn mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bà Phạm Thị O có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Phạm Chí L và chị Thang Thị Đ chậm thi hành đối với khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng anh L, chị Đ còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị O không phải chịu, đã nộp tạm ứng án phí số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010816 ngày 29/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại. Anh Phạm Chí L và chị Thang Thị Đ phải chịu 2.175.000đ (hai triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Phạm Thị O, anh Phạm Chí L và chị Thang Thị Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ