vanban.org

Bản án 96/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sỹ T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 96/2019/HSST
Ngµy: 16/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn K

- Héi thÈm nh©n d©n: +. Ông: Nguyễn Tất Q

+. Bà: Trần Thị Minh H

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn N - Kiểm sát viên.

Ngày 16/10/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2019/HSST ngày 04/10/2019 đối với bị cáo: Nguyễn Sỹ T, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1995. Tên gọi khác: Không. Nơi sinh: Huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Nơi cư trú: Xóm 08, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12 Con ông: Nguyễn Sỹ T, sinh năm 1968 Con bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1971 Anh, chị em ruột: 02 người, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Ngày 28/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 09/04/2018.

- 1 -

Tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/08/2019 hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công An tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1968. Có mặt. Nơi cư trú: Xóm 09, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1986. Vắng mặt. Nơi cư trú: Xóm 08, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 05/08/2019, Nguyễn Sỹ T đã đột nhập vào nhà anh Nguyễn Đình H ở xóm 09, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, lấy trộm của anh Hiền 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng đồng và 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Sam Sung (SM-T211) màu trắng. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Sỹ T trộm cắp của anh Hiền trị giá 6.530.000đồng.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Sỹ T khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 05/08/2019, bị cáo đi bộ từ nhà của mình tại xóm 08, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đi qua địa phận xóm 09, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương. Khi đi qua nhà anh Nguyễn Đình H, bị cáo thấy cổng đóng, bên trong không có người nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà anh H để trộm cắp tài sản. Bị cáo đi vòng ra sau nhà anh H, trèo lên trần nhà vệ sinh của gia đình anh H, phát hiện nhà ngang gia đình anh H lợp prôximăng, trong đó có 01 khuông lợp tấm nhựa trắng. Thấy vậy, bị cáo đi lại nhấc tấm nhựa trắng ra và luồn chân, đu người từ trên mái xuống nhà ngang anh H. Sau đó, bị cáo tiếp tục đi theo cửa nách nhà ngang đi lên nhà chính. Khi lên nhà chính, bị cáo đi lại kéo ngăn kéo bàn trang điểm thấy 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng đồng, bị cáo lấy bỏ vào túi quần bên phải. Bị cáo tiếp tục quay xuống nhà ngang thì thấy chiếc xe mô tô dựng dưới nhà ngang, khóa cốp không khóa, bị cáo đi lại nhấc cốp xe lên thì thấy 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Sam Sung (SM-T211) màu trắng, bị cáo lấy bỏ vào túi quần. Sau khi lấy được tài sản, bị cáo lấy 02 chiếc ghế chồng lên nhau để leo lên mái nhà ra

- 2 -

ngoài. Bị cáo mang tài sản trộm cắp được đến nhà Nguyễn Đình H, trao đổi với anh H để vay tiền, đồng thời để lại chiếc điện thoại và máy tính bảng vừa trộm cắp được cho anh H. Bị cáo nói với anh H là tài sản của bị cáo để lại làm tin để vay tiền, ít ngày quay lại lấy nên anh H tin lời bị cáo nên đã cho bị cáo vay 500.000 đồng. Sau khi vay được tiền bị cáo đi mua ma túy và sử dụng hết. Ngày 06/08/2019, bị cáo đến công an xã Xuân Sơn đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 1699 ngày 08/08/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đô Lương kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng đồng, trị giá 4.850.000 đồng và 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Sam Sung (SM-T211) màu trắng, trị giá 1.680.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Sỹ T trộm cắp của anh H trị giá 6.530.000 đồng. Tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại.

Tại bản cáo trạng số 98/CT - VKS ngày 19/09/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Sỹ Trọng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ T từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo

Về dân sự: Miễn xét

Vật chứng: Miễn xét

Bị cáo Nguyễn Sỹ T nhận tội và đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá

- 3 -

trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phï hîp víi c¸c tµi liÖu, chøng cø kh¸c cã t¹i hå s¬ vô ¸n nªn ®· cã ®ñ c¬ së ®Ó kÕt luËn:

Vào khoảng 16 giờ ngày 05/08/2019, Nguyễn Sỹ T đã đột nhập vào nhà anh Nguyễn Đình H ở xóm 09, xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương, lấy trộm của anh H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng đồng và 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Sam Sung (SM-T211) màu trắng mang đi cầm cố vay 500.000 đồng mua ma túy sử dụng. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Sỹ T trộm cắp của anh H trị giá 6.530.000 đồng.

Hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Sỹ T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Cách thức thực hiện hành vi ngang nhiên, coi thường pháp luật. Bị cáo là thanh niên khỏe mạnh, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, hám lợi bất chính, đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo trong vụ án:

Tại thời điểm phạm tội bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS và có 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội đã ra đầu thú quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị

- 4 -

cáo phần nào hình phạt để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là thỏa đáng và đúng mức, cần chấp nhận. Tiếp tục duy trì biện pháp tạm giam đối với bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo nghiện ma túy, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong vụ án này, anh Nguyễn Đình H đã có hành vi cho bị cáo vay tiền, để lại điện thoại, máy tính bảng trộm cắp của anh H để làm tin. Tuy nhiên anh H không biết được đó là tài sản do trộm cắp mà, hành vi của anh H không cấu thành tội phạm, không có cơ sở để xử lý, cơ quan điều tra không khởi tố là đúng quy định của pháp luật. Anh H không có yêu cầu gì về dân sự nên miễn xét.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu vàng đồng và 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Sam Sung (SM-T211) màu trắng bị cáo trộm cắp đã được trả lại cho anh Nguyễn Đình H, anh H không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên HĐXX không xem xét.

VÒ ¸n phÝ: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

V× c¸c lÏ trªn,

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sỹ T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (06/08/2019).

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Sỹ T

3. Về dân sự: Miễn xét.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Sỹ T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- 5 -

5. Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. N¬i nhËn:

Cỡ chữ