- Tranh chấp gì? án hình sự — "HINH SU - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (Tý) phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GD TỈNH TN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2019/HS-ST Ngày: 03-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GD, TỈNH TN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Đào;
Bà Trần Thị Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh TN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GD tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện GD, tỉnh TN xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (Tý), sinh năm 1995; tại tỉnh TN; nơi cư trú: Ô7/117, khu phố TB B, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T và bà Nguyễn Thị Kim C; vợ, con: Chưa có; tiền sự: 01. Ngày 29-6-2018, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; tiền án: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18-7-2019 đến nay (có mặt).
Bị hại:
1. Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu phố Gia Huỳnh, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh TN (vắng mặt).
2. Anh Bùi Minh T1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu phố TB B, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Hoàng H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Ấp LA, xã LH, huyện DH, tỉnh LA (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài, từ ngày 12/4/2019, đến ngày 15/6/2019, tại khu vực thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN, Nguyễn Văn T đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 02 xe mô tô của anh Bùi Minh T1 và anh Nguyễn Minh T, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ ngày 12/4/2019 Thuận đang ở nhà tại khu phố TB B, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN, thấy anh Bùi Minh T1 điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius biển số 70F1- 109.34 chạy ngang nên Thuận kêu anh Tâm lại nói chuyện và nói dối mượn xe của anh Tâm để đi đào trùn về câu cá thì anh Tâm đồng ý. Mượn được xe, Thuận đem đến tiệm cầm đồ Bảo Tín thuộc huyện DH, tỉnh LA do anh Võ Hoàng H làm chủ tiệm được số tiền 7.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/6/2019 tại khu phố Rạch Sơn, thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN, Thuận mượn xe mô tô hiệu Fashion biển số 70H2- 0979 của anh Nguyễn Minh T nói dối đi công chuyện. Mượn được xe, Thuận đem đến khu vực xã Bàu Đồn, huyện GD, tỉnh TN cầm cố cho 01 người thanh niên tên Hú không rõ địa chỉ với số tiền 1.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Sau đó anh Bùi Minh T1 và anh Nguyễn Minh T đến công an trình báo yêu cầu xử lý đối với Nguyễn Văn T.
Kết luận định giá tài sản số: 84/KL-HĐ ngày 23/8/2019 và số: 85/KL-HĐ cùng ngày 29/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện GD, tỉnh TN xác định 01 xe mô tô biển số 70H2- 0979 có giá trị 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng); 01 xe mô tô biển số 70F1- 109.34 có giá trị 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm ngàn đồng).
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 70F1- 109.34 đã trả lại cho chủ sở hữu xong.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Minh T1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường; anh Nguyễn Minh T yêu cầu bồi thường 2.000.000 đồng; anh Võ Hoàng H yêu cầu bồi thường 7.000.000 đồng, nhưng bị cáo Thuận chưa bồi thường.
Anh Võ Hoàng H nhận cầm cố xe mô tô nhưng không biết do nguồn gốc do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện GD, tỉnh TN không xử lý.
Đối với người tên Hú không rõ địa chỉ nên không có căn cứ để Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện GD, tỉnh TN xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 99/CT-VKSGD ngày 12/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện GD, tỉnh TN đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện GD trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 70F1- 109.34 đã trả lại cho chủ sở hữu xong.
Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận anh Bùi Minh T1 đã nhận lại tài sản nên anh không có yêu cầu gì khác. Ghi nhận bị cáo Thuận đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Minh T 2.000.000 đồng, anh Võ Hoàng H 7.000.000 đồng.
Tại phiên Tòa bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện GD, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện GD, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ xác định: Từ ngày 12/4/2019, đên ngày 15/6/2019, tại khu vực thị trấn GD, huyện GD, tỉnh TN, Nguyễn Văn T đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt xe mô tô Yamaha Sirius biển số 70F1- 109.34 của anh Bùi Minh T1 giá trị 7.500.000 đồng và xe mô tô hiệu Fashion biển số 70H2- 0979 của anh Nguyễn Minh T có giá trị 2.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 10.000.000 đồng thì bị phát hiện. Cho nên đối với hành vi của bị cáo xét thấy có đủ yếu tố cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác và vật chứng của vụ án. Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây bất bình trong dư luận, gây bất an trong đời sống người dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương, làm ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Nguyên nhân do bị cáo lười lao động, tham lam, muốn có tiền tiêu xài dựa trên công sức của người khác, bị cáo vẫn biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu là có 01 tiền sự: Vào ngày 29-6-2018, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng một mức án nghiêm mới có đủ thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy:
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội từ 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô Yamaha Sirius biển số 70F1- 109.34 đã trả lại cho chủ sở hữu xong.
Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận anh Bùi Minh T1 đã nhận lại tài sản nên anh không có yêu cầu gì khác. Ghi nhận bị cáo Thuận đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Minh T 2.000.000 đồng, anh Võ Hoàng H 7.000.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (Tý) phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T (Tý) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/7/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận bị hại anh anh Bùi Minh T1 đã nhận lại tài sản xong; ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.
Ghi nhận cáo Nguyễn Văn T (Tý) đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Minh T 2.000.000 đồng và bồi thường cho anh Võ Hoàng H 7.000.000 đồng.
3. Án phí: Căn cứ Điều 23 và Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T (Tý) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TN trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND huyện GD; - THADS huyện GD; - Công an huyện GD; - Sở tư pháp tỉnh TN; - Bị cáo; - Những người TGTT khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trương Thị Bình |