vanban.org

Bản án 96/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ý N là được ly hôn với anh Lê Minh H. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 72 do Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Trạch cấp ngày 02/6/2016 không còn giá trị pháp lý.

* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Giao con chung là cháu Lê Thị Kim Thanh sinh ngày 08/02/2017 cho anh Lê Minh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (hiện cháu Thanh đang sống chung với anh H). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ý N là được ly hôn với anh Lê Minh H. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 72 do Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Trạch cấp ngày 02/6/2016 không còn giá trị pháp lý.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 96/2019/HNGĐ-ST
Ngày 12/7/2019.
Về việc: “Tranh chấp Ly hôn; Nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Triết Minh

2. Bà Lê Thị Thường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng; Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham dự phiên tòa: Không tham gia.

Vào ngày 12 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, An Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ kiện Hôn nhân gia đình thụ lý số 309/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2019, về việc “Tranh chấp về Ly hôn; Nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/8/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ý N (Nị), sinh năm 1992;

Nơi cư trú: Ấp H , xã Đ, huyện T, Long An.

2. Bị đơn: Anh Lê Minh H, sinh năm 1984;

Nơi cư trú: Ấp V, xã T, huyện TS, An Giang.

(Các đương sự đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Ý N và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà có nội dung như sau: Chị Nguyễn Ý N và anh Lê Minh H chung sống với nhau từ năm 2016, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trạch (số 72 ngày 02/6/2016). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có được 01 con chung tên Lê Thị Kim Thanh sinh ngày 08/02/2017; Thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do anh H không lo làm ăn, ham mê cờ bạc mặc dù đã Nều lần tạo điều kiện cho sửa đổi để chung sống lo cho con nhưng anh H không khắc phục nên tình cảm vợ chồng không còn và đã sống ly thân.

Nay vì tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị Nguyễn Ý N yêu cầu được ly hôn với anh Lê Minh H; Về con chung đồng ý giao cho anh H nuôi và không cấp dưỡng; Về tài sản cũng không yêu cầu giải quyết;

* Theo bản khai của bị đơn anh Lê Minh H và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau: Anh Lê Minh H thừa nhận đã sống chung với chị Nguyễn Ý N từ năm 2016, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Trạch (số 72 ngày 02/6/2016). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có được 01 con chung tên Lê Thị Kim Thanh sinh ngày 08/02/2017 như vợ trình bày, thời gian chung sống vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh H làm ăn thất bại và nợ nần nên vợ đã bỏ gia đình về bên vợ sống nhưng con cái thì anh vẫn chăm sóc để mong vợ suy nghĩ lại quay về hàn gắn chung sống.

Nay vợ yêu cầu xin ly hôn thì anh Lê Minh H không đồng ý do hiện tại vẫn còn rất yêu thương vợ con, mong vợ suy nghĩ và quay về hàn gắn để chung sống lo cho con; Về con cái anh Lê Minh H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Tài sản không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về xin ly hôn và nuôi con, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ý N đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với anh Lê Minh H từ năm 2016 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; Nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên chị Nguyễn Ý N xin được ly hôn với anh Lê Minh H. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình 2014; Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, trở thành một tế bào của xã hội, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị Ý N và anh H đã xảy ra Nều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại và không muốn sống chung lại nữa, mặc dù đã có thời gian để hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả, Tòa án đã H giải cho anh chị đoàn tụ nhưng phía chị Lê Thị Ý N đã cương quyết ly hôn. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ý N là được ly hôn với anh Lê Minh H.

Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Chị Nguyễn Ý N thừa nhận khi sống chung với anh Lê Minh H có 01 con chung là Lê Thị Kim Thanh ngày 08/02/2017 và giấy khai sinh cũng thể hiện điều này nên công nhận cháu Kim Thanh là con chung của anh chị và đồng thời phía anh Lê Minh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, từ khi chị Ý N và anh H không còn sống chung thì cháu Lê Thị Kim Thanh đã sống chung với anh H, đồng thời phía chị Nguyễn Ý N thống nhất giao con cho anh H nuôi dưỡng, do đó để ổn định tâm lý cho cháu nên cần chấp nhận yêu cầu của anh Lê Minh H là được tiếp tục nuôi con chung; Phía anh H phải tạo điều kiện cho chị Ý N được thăm nom và chăm sóc con. Ngoài ra, phía anh Lê Minh H không yêu cầu chị Nguyễn Ý N cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên không xem xét buộc chị Ý N cấp dưỡng nuôi con, tuy Nên khi có đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì các bên có quyền xin thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng.

Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Ý N và anh Lê Minh H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Nguyễn Ý N có yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Minh H nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của luật Hôn nhân gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Xử:

* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ý N là được ly hôn với anh Lê Minh H. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 72 do Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Trạch cấp ngày 02/6/2016 không còn giá trị pháp lý.

* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng:

+ Giao con chung là cháu Lê Thị Kim Thanh sinh ngày 08/02/2017 cho anh Lê Minh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (hiện cháu Thanh đang sống chung với anh H).

+ Chị Nguyễn Ý N không phải cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Minh H; Anh Lê Minh H phải tạo điều kiện cho chị Nguyễn Ý N được thăm nom và chăm sóc con.

* Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu giải quyết.

* Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Ý N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0000343 ngày 28/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, An Giang; Được khấu trừ nên chị Chị Nguyễn Ý N đã nộp xong.

Báo cho các đương sự tham dự phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ