- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cố đất"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần y u cầu kháng cáo của Võ Văn H, bà Nguy n Thị Lan P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| T A ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2019/DS-PT Ngày: 02-5-2019 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cố đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c Vạng.
Các Thẩm phán:
Ông Nguy n Tấn Tặng;
Bà Nguy n Huỳnh Thị Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Ông Lê Thành Biên - iểm sát vi n.
Trong các ngày 29/3/2019, 02/5/2019 tại trụ s Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 270/2016/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2016 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất va cố đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2016/DS-ST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện M bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2019/QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguy n đơn: Ông Đặng Văn R, sinh năm 1954; địa ch : ấp B, xã A, huyện M, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1969; địa ch : Ấp B, xã A, huyện M, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)
Ngư i bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của ông Võ Văn H: Luật sư Phan Văn M - Văn phòng luật sư C – Thuộc đoàn Luật sư t nh Đồng Tháp; Địa ch văn phòng: Đư ng N, hóm S, Phư ng M, Tp. Đ, Đồng Tháp. (Có mặt)
3. Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan:
3.1. Bà Bùi Thị N, sinh năm 1957
3.2. Anh Đặng Tuấn , sinh năm 1980
3.3. Anh Đặng Mạnh T, sinh năm 1983
3.4. Chị Đặng Thị T, sinh năm 1985
3.5. Chị Đặng Thị N, sinh năm 1989
3.6. Anh Đặng T H, sinh năm 1993
3.7. Chị Đặng Bé S, sinh năm 1991
3.8. Chị Nguy n Thị N, sinh năm 1981
(Bà N, anh , anh T, chị T, chị N, anh H, chị S, chị N đồng ủy quyền cho ông Đặng Văn R, theo văn bản ủy quyền ngày 13/8/2015 và 17/8/2016).
Cùng địa ch : ấp B, xã A, huyện M, t nh Đồng Tháp.
3.9. Bà Nguy n Thị Lan P (G), sinh năm 1969 (Có mặt)
3.10. Chị Võ Thị Phương T, sinh năm 1991
Địa ch : Ấp B, xã A, huyện M, t nh Đồng Tháp.
3.11. Bà Cao Thị B, sinh năm 1937
3.12. Anh Võ Văn N, sinh năm 1971
3.13. Anh Võ Văn Đ, sinh năm 1974
3.14. Anh Võ Văn D, sinh năm 1975
Cùng địa ch : Ấp B, xã A, huyện M, t nh Đồng Tháp.
Ngư i bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của bà Nguy n Thị Lan P: Luật sự Phan Văn M - Văn phòng luật sư C – Thuộc đoàn Luật sư t nh Đồng Tháp; Địa ch văn phòng: Đư ng N, hóm S, Phư ng M, Tp. Đ, Đồng Tháp.
3.15. Chị Võ Thị C, sinh năm 1972; địa ch : Ấp H, xã A, huyện C, t nh Tiền Giang.
(Chị T, bà B, anh N, anh Đ, anh D, chị C đồng ủy quyền cho ông Võ Văn H theo văn bản ủy quyền ngày 06/8/2015, 11/01/2016 và 01/02/2016).
3.16. Ngân hàng N– Chi nhánh huyện M.
Đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn Q, chức vụ: Giám đốc. (Vắng mặt).
Địa ch : hóm B, thị trấn A, huyện M, t nh Đồng Tháp.
4. Ngư i kháng cáo: Ông Võ Văn H, bà Nguy n Thị Lan P - Là bị đơn và ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Ông Đặng Văn R đồng thời đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị N, anh Đặng Tuấn K, anh Đặng Mạnh T, chị Đặng Thị T, chị Đặng Thị N, anh Đặng Tý Hon, chị Đặng Bé S, chị Nguyễn Thị N trình bày: Nguyên gia đình có 01 thửa đất số 765, t bản đồ số 02, diện t ch 4.258m2, mục đ ch sử dụng đất trồng lúa, t a lạc tại ấp B, xã A, được UBND huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 03/11/1992 cho Đặng Văn R đứng t n quyền sử dụng đất.
Do nhu cầu vốn về làm ăn n n vào năm 1989, ông có cố đất cho cụ Võ Văn H 02 công đất lúa tầm 3m (theo đo đạc diện t ch 3.090,8m2), với giá là 250 giạ lúa, th i hạn cầm cố là không xác định, khi nào gia đình có khả năng thì hoàn trả lại cho cụ H 250 giạ lúa thì cụ H sẽ trả đất lại cho gia đình. Hai b n có lập giấy cầm cố đất nhưng do quá lâu ông làm thất lạc. Nay ông y u cầu vợ cụ H, cùng các con cụ H, ông H cùng chị P, chị T trả lại diện t ch đất 3.090,8m2 thuộc thửa đất số 765, t bản đồ số 2, diện t ch 4.258m2, mục đ ch đất trồng lúa, ông trả lại cho gia đình cụ H 250 giạ lúa.
- Ông Võ Văn H đồng thời đại diện theo ủy quyền của cụ Cao Thị B, chị Nguyễn Thị Phương T, ông Võ Văn N, ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn D, bà Võ Thị C trình bày: Vào ngày 07/04/1995, ông R chuyển nhượng cho ông 01 phần đất chiều ngang 24m, chiều dài 135m, diện t ch 3.240m2. Tổng số lúa chuyển nhượng là 375 giạ, khi ông chuyển nhượng đất của ông R có ông L Văn S ký ngư i làm chứng, có làm t giao kèo nhượng đất và ông đã giao đủ cho ông R số lúa 375 giạ, ông R hứa sau khi bán phần đất còn lại cho ngư i khác sẽ chuyển t n quyền sử dụng cho ông luôn. Hiện phần đất này gia đình ông đang canh tác từ lúc chuyển nhượng cho đến nay. Ông đến nhà ông R nhắc nhiều lần về việc chuyển t n quyền sử dụng đất thì ông R nói đang vay Ngân hàng khi nào trả xong lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra sẽ làm thủ tục chuyển t n sang cho ông, nhưng đến nay ông R không thực hiện.
Nay ông y u cầu vợ chồng ông R và các con của ông R phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng diện t ch theo đo đạc 3.090,8m, đất t a lạc tại ấp B, xã A, huyện M cho hộ của ông.
- Bà Nguyễn Thị Lan P trình bày: Thống nhất theo l i trình bày của ông H.
- Ông Võ Văn Q đại diện Ngân hàng N- Chi nhánh huyện M trình bày: Ngân hàng có đơn không y u cầu vì các khoản nợ của ông R trả hết.
- Ông Võ Văn H, bà Nguyễn Thị Lan P trình bày thêm: hông thống nhất theo y u cầu của ông R. Nay ông bà y u cầu vợ chồng ông R và cùng các con của ông R phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng và tách bộ sang tên diện t ch 3.090,8m2 đất t a lạc tại ấp B, xã A, huyện M.
- Ông R trình bày thêm: Phần đất tranh chấp ông ch cố cho cụ H, không có chuyển nhượng cho vợ chồng ông H n n không đồng ý theo y u cầu của ông H.
- Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện M đã quyết định:
Chấp nhận y u cầu của ông Đặng Văn R y u cầu cụ Cao Thị B, ông Võ Văn N, ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn D, bà Võ Thị C, ông Võ Văn H, bà Nguy n Thị Lan P và chị Nguy n Thị Phương T cho chuộc lại 2 công đất ruộng tầm 3m (theo đo đạc diện t ch 3.090,8m2).
hông chấp nhận y u cầu của ông Võ Văn H y u cầu ông Đặng Văn R, bà Bùi Thị N, anh Đặng Tuấn , anh Đặng Mạnh T, chị Đặng Thị T, chị Đặng Thị N, anh Đặng T H, chị Đặng Bé S, chị Nguy n Thị N tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phần đất chiều ngang 8 tầm, chiều dài 45 tầm, diện t ch 3.240m2 (theo đo đạc diện t ch 3.090,8m2) và làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Hủy hợp đồng cố đất giữa ông Đặng Văn R với cụ Võ Văn H (hợp đồng miệng).
Hủy t giao kèo nhượng đất giữa ông Võ Văn H với ông Đặng Văn R.
Buộc cụ Cao Thị B, cùng các con cụ H là ông Võ Văn N, ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn D, bà Võ Thị C, ông Võ Văn H, bà Nguy n Thị Lan P và chị Nguy n Thị Phương T trả lại diện t ch đất 3.090,8m2 thuộc một phần thửa 765, t bản đồ số 02 cho hộ ông Đặng Văn R.
Phần đất tr n thể hiện từ các mốc: MI - M2 - M3 - M4 - MI theo sơ đồ mốc khu đất tranh chấp của Văn Phòng đăng ký quyền sử dụng đất và bi n bản xem xét thẩm định ngày 31/03/2014.
Buộc ông Đặng Văn R trả lại cho cụ Cao Thị B, ông Võ Văn N, ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn D, bà Võ Thị C, ông Võ Văn H, bà Nguy n Thị Lan P và chị Nguy n Thị Phương T 250 giạ lúa khô, lúa 504, được trả bằng tiền tại th i điểm Thi hành án và 20.000.000đ tiền trang sửa đất.
hi có đơn y u cầu thi hành án của cụ Cao Thị B, ông Võ Văn N, ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn D, bà Võ Thị C, ông Võ Văn H, bà Nguy n Thị Lan P và chị Nguy n Thị Phương T mà hộ ông Đặng Văn R chưa thi hành xong số tiền tr n còn phải chịu lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định.
Về chi ph giám định: Ông Đặng Văn R nộp 2.120.000đ tiền giám định, định giá và đã nộp xong.
Về ch ph thẩm định: Ông Võ Văn H nộp 5.701.000đ và đã nộp xong.
Về án ph dân sự sơ thẩm:
Cụ Cao Thị B, ông Võ Văn N, ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn D, bà Võ Thị C, ông Võ Văn H, bà Nguy n Thị Lan P và chị Nguy n Thị Phương T phải nộp 7.727.000đ án ph dân sự sơ thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp 2.916.000đ, theo lai thu số 17581 ngày 02/01/2014, phải nộp tiếp 4.81l.000đ.
Ông Đặng Văn R nộp 2.425.000đ án ph dân sự sơ thẩm, được khấu trừ tạm ứng 2.332.800đ, theo bi n lai thu số 17289 ngày 01/10/2013, ông R phải nộp tiếp 92.200đ.
Ngoài ra bản án còn tuy n về quyền và th i hạn kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa vụ của ngư i được thi hành án, ngư i phải thi hành án, th i hiệu thi hành án.
- Ngày 13 tháng 10 năm 2016, ông Võ Văn H và bà Nguy n Thị Lan P không đồng ý với bản án số 29/2016/DS-ST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện M, y u cầu xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.
- Tại phi n tòa phúc thẩm:
+ Nguy n đơn: Giữ nguy n y u cầu kh i kiện, không thỏa thuận được với nhau để giải quyết tranh chấp và không có cung cấp bổ sung chứng cứ mới.
+ Bị đơn: hông đồng ý theo quyết định của bản án sơ thẩm, y u cầu tiếp tục được chuyển nhượng đất và không có cung cấp bổ sung chứng cứ mới. Y u cầu giám định lại chữ ký của ông R trong t giao kèo ngày 07/4/1995.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T nh ý kiến về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký, Luật sư, đương sự trong th i gian chuẩn bị xét xử và tại phi n tòa đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo l i khai của những ngư i làm chứng mâu thuẩn nhau như sau: Ông L Văn T (Tập đoàn trư ng) thấy ông H canh tác và ông H nói cố của ông R giá 250 giạ lúa. Ông R và ông H có đến nhà của ông hỏi việc cố đất, do ông R muốn cố lấy tiền chữa bệnh cho vợ, nhưng lúc đó 02 b n không có làm giấy. Ông R, ông H có đến nhà của ông và ông R xin chuộc lại đất, nhưng ông H nói khi mua được đất sẽ cho chuộc lại.
Ông S (Trư ng Ban nhân dân ấp) trình bày, tại bi n bản lấy l i khai ngày 19/9/2014 như sau: Ông H, ông R, ông H có đến nhà của ông hỏi việc chuyển nhượng đất, ông bảo chuyển nhượng thì về làm giấy đem xuống cho ông ký, mấy ngày sau ông H đem giấy cho ông xác nhận. Như vậy, ông S cũng không thấy ông R ký vào t giao kèo chuyển nhượng. Tại phi n tòa phúc thẩm, ông S thay đổi l i khai cho rằng ông H, ông R ký trước mặt ông, nhưng không giải th ch được lý do sự mâu thuẩn trong l i khai nói tr n. ết luận giám định của Viện khoa h c hình sự - Bộ công an xác định ông R không có ký t n trong t giao kèo chuyển nhượng đất ngày 07/4/1995. Tại phi n tòa phúc thẩm, ông H y u cầu thu thập chữ ký mẫu của ông R trong hợp đồng vay tại Ngân hàng N– Chi nhánh huyện M, nhưng Ngân hàng có Văn bản số 01/NHNoTM- TNQ ngày 06/4/2019 trả l i không tìm được chứng từ vay của ông R. Ông R thì không nhớ được ngày giao dịch vào khoảng năm 1995 -1998. Nay, ông H không còn y u cầu giám định tiếp. Qua đó cho thấy, ông H, bà P trình bày là không có căn cứ, đề nghị không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông H, bà P, giữ nguy n bản án sơ thẩm.
Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phi n tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phi n tòa phúc thẩm, bà Bùi Thị N, Anh Đặng Tuấn , Anh Đặng Mạnh T, Chị Đặng Thị T, Chị Đặng Thị N, Anh Đặng T H, Chị Đặng Bé S, Chị Nguy n Thị N ủy quyền cho ông Đặng Văn R. Chị Võ Thị Phương T, cụ Cao Thị B, ông Võ Văn N. ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn D, bà Võ Thị C ủy quyền cho ông Võ Văn H. Thủ tục ủy quyền phù hợp quy định của pháp luật n n chấp nhận.
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Đặng Văn R diện t ch 3090m2 thuộc thửa đất số 765 t bản đồ số 02, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông R đứng t n, cấp ngày 03/11/1992 (diện t ch cấp giấy chứng nhận là 4258m2), đất tại xã A, huyện M, t nh Đồng Tháp. Hiện tại, do hộ ông Nguy n Văn H, Nguy n Thị Lan P, Võ Thị Phương T sử dụng (g i tắt là hộ ông H). Ông R trình bày, đất cố cho cụ Võ Văn H (cha của ông H) vào năm 1989, việc cố đất có ông L Văn T biết, nay y u cầu cho hộ của ông R, bà Bùi Thị N, Anh Đặng Tuấn , Anh Đặng Mạnh T, Chị Đặng Thị T, Chị Đặng Thị N, Anh Đặng T H, Chị Đặng Bé S, Chị Nguy n Thị N (g i tắt là hộ ông R) chuộc lại đất. Ông H không đồng ý y u cầu của ông R, vì việc chuyển nhượng đất đã được ký kết tại t giao kèo ngày 07/4/1995, n n y u cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Những ngư i làm chứng trình bày: Ông T khai, trước đây ông là tập đoàn trư ng, ông thấy cụ H canh tác đất của ông R và cụ H nói cho ông biết là ông R cố với giá 250 giạ lúa, việc cố đất không có làm giấy t . Đồng th i, ông R với ông H có đến nhà của ông để hỏi thủ tục cố đất, nhưng lúc đó pháp luật không cho cố hoặc chuyển nhượng, n n ông T trả l i là cố đất thì tự làm giấy với nhau (ông nói rõ th m là ông R lãnh phân thuốc về giao cho ông H). Ông Huỳnh Văn B khai, ông có nghe ông R nói dự định sang đất cho ông H giá 150 giạ lúa/công, n n ông B đề nghị ông R sang đất cho ông với giá 155 giạ/công, nhưng ông R cho rằng đã hứa chuyển nhượng cho ông H (ông B ch nghe ông R nói dự định chuyển nhượng và hứa với H chứ không có chứng kiến thỏa thuận).
Ông R cho rằng, cụ H giao lúa cố vào năm 1989 và giao tại nhà cụ H. ông Đức (em ông H) khai, ông sống chung với cụ H nhưng không nhớ ông R có đến nhà cụ H nhận lúa hay không. Ông H khẳng định, việc chuyển nhượng đất thực hiện vào năm 1995, đồng th i lúc này ông không còn sống chung hộ với cụ H, nhưng tại phi n tòa sơ thẩm ông H xác nhận là ông giao lúa cho ông R tại nhà của ông H (vì ông H và vợ con của ông vẫn còn ăn chung trong gia đình của cha mẹ, nhưng làm kinh tế thu nhập ri ng). Như vậy có đủ cơ s xác định ông R thỏa thuận cố đất cho cụ H và hộ ông H trả lúa cố vào năm 1989. Sau đó, ông R được cấp quyền sử dụng đất vào năm 1992 và thực hiện quyền nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Tại Phi n toà sơ thẩm ngày 13/7/2016, ông H khai đất do ông chuyển nhượng, khi thỏa thuận có mặt ông H, vợ chồng ông R, t giao kèo chuyển nhượng được lập tại nhà của ông H, sau đó 02 b n cùng xuống nhà của ông S nh ký xác nhận. Phi n tòa sơ thẩm ngày 23/8/2016, ông H lại khai khi thỏa thuận có mặt vợ chồng ông H, vợ chồng ông R và cụ H. Tại Tòa án T nh, ông H khẳng định khi viết giấy chuyển nhượng ch có mặt ông H với ông R. Ông H viết t giao kèo, sau khi ký xong thì 02 ông cùng đi đến nhà ông S để xác nhận. Tại Tòa án cấp sơ thẩm ông S (Trư ng Ban nhân dân ấp) trình bày, trước đây ông H, ông H, ông R đến nhà của ông để hỏi việc chuyển nhượng đất và ông đã nói nếu muốn chuyển nhượng thì làm giấy đem xuống cho ông ký, khi làm thủ tục qua bộ thì lấy giấy tay làm căn cứ tách bộ; ông S thừa nhận giấy giao kèo chuyển nhượng do ông H đem đến cho ông ký xác nhận (không có mặt ông R). Tuy nhiên, ông S trình bày tại phi n tòa phúc thẩm, việc ký t giao kèo do ông H, ông R ký tại nhà của ông S. Đồng th i, ông S cũng xác định là ông có trách nhiệm cung cấp thông tin để giải quyết vụ án, không bị ai ép buộc, nhưng ông cho rằng khi ký t n bi n bản lấy l i khai tại Tòa án cấp sơ thẩm thì ông không có đ c nội dung là không phù hợp. Mặt khác, ông R không thừa nhận chữ ký tại t giao kèo chuyển nhượng đất; tại ết luận giám định số 294/C09-P5 ngày 20/12/2018 của Viện hoa h c hình sự -Bộ công an kết luận không phải chữ ký của ông R trong t giao kèo chuyển nhượng đất nói tr n. Thực tế, ông H không có căn cứ chứng minh đã giao đủ lúa theo giấy giao kèo.
Qua nội dung tr n cho thấy, ông R y u cầu hộ ông H trả đất cố là có cơ s , vì ngư i làm chứng cũng không chứng kiến việc thỏa thuận của đương sự. L i khai của ông H với ông S mâu thuẩn nhau và 02 ông không chứng minh được căn cứ của việc thay đổi l i khai. Chữ ký trong t giao kèo ngày 07/4/1995 không phải là của ông R, trong khi đó ông R không thừa nhận chuyển nhượng đất. Vợ, con của cụ H thừa nhận lúa của hộ ông H giao cho ông R để thực hiện giao dịch n n không ai có y u cầu gì, vì vậy, hộ ông H nhận lại lúa do ông R trả mới bảo đảm quyền lợi của hộ ông H (cụ H ch đứng ra thỏa thuận cố).
Tr n thực tế, ông H canh tác đất cố, nay không y u cầu trả chi phí trang sửa đất. Tuy nhi n, ông R tự nguyện trả cho ông H 20.000.000đ là phù hợp quy định của pháp luật n n chấp nhận. Ông H y u cầu đo đạc lại diện t ch đất, nhưng khi đo đạc 31/3/2014 có mặt ông H, bà P thống nhất vị tr đất của ông R, vậy y u cầu này là không có cơ s n n không chấp nhận. Do đó, những ngư i đồng thừa kế của cụ H cùng với hộ của ông H có nghĩa vụ trả đất; hộ ông R trả cho hộ ông H 250 giạ lúa (loại lúa 504) và 20.000.000đ là phù hợp quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát T nh ý kiến đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông H, bà P về y u cầu được tiếp tục sử dụng đất là có cơ s n n chấp nhận.
Chấp nhận một phần y u cầu kháng cáo của ông H, bà P; sửa một phần bản án sơ thẩm. Các phần khác không có kháng cáo kháng nghị có hi u lực pháp luật.
Về chi ph giám định: Ông H, bà P phải nộp chi ph giám định cấp phúc thẩm 5.072.000đ (đã nộp xong).
Về án ph : Hộ ông H phải chịu tiền án ph dân sự sơ thẩm là 7.727.000đ. Ông H, bà P không phải chịu tiền án ph dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ tr n;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận một phần y u cầu kháng cáo của Võ Văn H, bà Nguy n Thị Lan P.
Sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm.
2. Chấp nhận y u cầu của ông Đặng Văn R.
Hủy hợp đồng cố đất giữa ông Đặng Văn R với cụ Võ Văn H.
Buộc cụ Cao Thị B và các con của cụ H gồm: Ông Võ Văn N, ông Võ Văn Đ, ông Võ Văn D, Bà Võ Thị C, ông Võ Văn H cùng bà Nguy n Thị Lan P, chị Nguy n Thị Phương T trả lại diện t ch đất 3.090,8m2 thuộc thửa 765, t bản đồ số 2 cho hộ ông R. Vị tr đất trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4 tr về mốc M1 (kèm theo bi n bản xem xét thẩm định tại chỗ và sơ đồ đo đạc ngày 31/3/2014).
Buộc hộ ông Đặng Văn R phải trả cho hộ ông Võ Văn H 250 giạ lúa (loại lúa 504), được quy đổi thành tiền tại th i điểm thi hành án và số tiền 20.000.000đ.
ể từ khi có đơn y u cầu thi hành án, mà hộ ông R chưa thi hành xong số tiền tr n, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về chi ph giám định:
Ông R phải nộp chi ph giám định cấp sơ thẩm 2.120.000đ (đã nộp xong).
Ông H, bà P phải nộp chi ph giám định cấp phúc thẩm 5.072.000đ (đã nộp xong).
4. Về chi ph thẩm định: Ông H phải nộp số tiền là 5.701.000đ (đã nộp xong).
5. Án ph dân sự:
Hộ ông H phải chịu tiền án ph dân sự sơ thẩm là 7.727.000đ, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án ph 2.916.000đ, theo bi n lai số 17581 ngày 02/01/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, t nh Đồng Tháp. Vậy còn phải nộp tiếp số tiền 4.811.000đ
Ông H, bà P không phải chịu tiền án ph dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông H, bà P số tiền tạm ứng án ph 200.000đ theo bi n lai số 07000 ngày 13/10/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, t nh Đồng Tháp.
Ông R phải chịu tiền án ph dân sự sơ thẩm 2.425.000đ, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án ph 2.332.800đ theo bi n lai số 17289 ngày 01/10/2013 và 448.900đ theo biên lai số 026705 ngày 03/10/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, t nh Đồng Tháp. Ông R được nhận lại tiền thừa là 356.700đ.
Trư ng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án, ngư i phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuy n án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - V SND T nh; - TAND huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN T A Nguyễn Ngọc Vạng |