- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Phạm Hữu P,T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễ n Hữ u P phạm tội “Cướp giậ t tài sản” và “Trộm cắ p tà i sả n”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự đố i vớ i; Điều 55 Bộ luật Hình sự đố i vớ i
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2018/HS-ST. Ngày: 14-11-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Dương Thị Phụ ng.
Bà Võ Thị Mỹ Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Minh Bả o - Thư ký Tò a á n nhân dân thà nh phố V, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Bà Phạm
Thị Tuyết Em - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại Phòng xử á n, Tòa án nhân dân thành phố V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2018/TLST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩ m số: 90/2018/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Nguyễ n Hữ u P (T), sinh năm 1980 tại Vĩnh Long.
Nơi cư trú: Số nhà 91, ấp T , xã T , thành phố V , tỉnh Vĩnh Long ; nghề nghiệp: Không có ; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Nguyễ n Hữ u T (chế t) và bà Đặng Thị Tuyết N; anh, chị, em ruộ t: Có 02 ngườ i; có vợ là Nguyễ n Thị T và 01 ngườ i con là Nguyễn Huy P, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không có ; nhân thân: Tố t; bị bắt tạm giữ từ ngà y 15/6/2018 và chuyển tạm giam đến nay, bị cáo có mặt.
2. Huỳnh Minh T, sinh năm 1985 tại Vĩnh Long.
Nơi cư trú: Số nhà 46, đườ ng Đinh T , Phườ ng T, thành phố V , tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không có ; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Huỳnh Long G và bà Phan Ngọ c G ; có vợ là Nguyễn Thùy A và 01 ngườ i con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không có ; nhân thân: Tố t; bị cáo đang bị tạm giam trong vụ á n khá c, bị cáo có mặt.
- Bị hại:
1. Chị Trần Ngọc T , nơi cư trú : ấp P, xã Đ, huyệ n L, tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặ t.
2. Ông Nguyễ n Văn X , nơi cư trú : Số nhà 11, đườ ng H, Phườ ng M, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặ t.
- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Thu L, nơi cư trú : ấp A, xã T, huyệ n V, tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặ t.
2. Chị Võ Thị Thùy T, nơi cư trú : Số nhà 11 , đườ ng P, Phườ ng C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặ t.
- Ngườ i là m chứ ng:
1. Chị Trần Thị Tuyết N , nơi cư trú : ấp P, xã Đ, huyệ n L, tỉnh Vĩnh Long , vắ ng mặ t.
2. Chị Huỳnh Thị H, nơi cư trú : ấp B, xã A, huyệ n L, tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặ t.
3. Anh Huỳ nh Tấ n L , nơi cư trú : Số nhà 76, đườ ng P, Khóm B, Phườ ng B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễ n Hữ u P , sinh năm 1980 là đối tượng không có nghề ng hiệ p, vào lúc 17 giờ 20 phút, ngày 13/6/2018 P điề u khiể n xe môtô biể n kiể m soá t số 64F4- 8611 đi vò ng quanh cá c tuyế n đườ ng trên đị a bà n thà nh phố Vĩ nh Long, mục đích tìm tài sản của người khác sơ hở để lấ y trộ m . Khi đế n khu vự c vỉ a hè trướ c khu vự c Bả o Tàng Vĩnh Long, thuộ c Phườ ng M, thành phố V (gầ n bế n phà An Bì nh) thì P dừ ng xe đậ u lạ i ngồ i quan sá t , sau đó P thấ y chị Trầ n Ngọ c T đang đứ ng cá ch P khoảng 10 mét trên tay có cầm điện thoại di động, nên P nảy sinh ý định giật điện thoạ i củ a chị T, P liề n điề u khiể n xe mô tô chạ y trên vỉ a hè hướ ng từ chợ Vĩ nh Long về cầ u Cái Cá để đến vị trí của chị T , khi chạ y đế n P cho xe á p sá t và o chị T , P dùng tay trái giật cái điện tho ại chị T đang cầ m rồ i tăng ga chạy xe tẩ u thoá t, P đem điệ n thoại vừa giật được đến tiệm cầm đồ H tại số 111, đườ ng P, Phườ ng C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long gặp chị Võ Thị Thùy T cầ m vớ i gi á 300.000 đồ ng, đến chiều cùng ngày P gọi điện thoại cho vợ là Nguyễn Thị Thu L , kêu chị L đến tiệm H chuộ c lạ i điện thoạ i dù m P, chị L đến chuộc lại và sau đó đem về nhà sử dụng cho đến khi bị Công an thu giữ .
Sau khi bị giậ t tà i sả n chị T đến Công an Phường M, thành phố V trình báo sự việ c. Qua xá c minh đế n ngà y 14/6/2018 Cơ quan điề u tra mờ i P làm việc, P thừ a nhậ n hà nh vi cướ p giậ t điệ n thoạ i như đã nêu trên và giao nộ p vậ t chứ ng cho Cơ quan Cả nh sá t điề u tra (điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Samsung J7 màu xanh).
Theo kế t luậ n định giá tài sản số : 87/HĐĐG&TTHS, ngày 18/6/2018 của Hội đồ ng đị nh giá trong tố tụ ng hì nh sự kế t luậ n : Điệ n thoạ i di độ ng hiệ u Samsung J 7 màu xanh có giá trị là 4.194.000 đồ ng và sau đó đã trả lạ i tài sản cho bị hại xong.
Đối với Nguyễn Thị Thu L và Võ Thị Thùy T , do không biế t tà i sả n do P phạm tội mà có, nên không xử lý đố i vớ i L và T.
Đối với xe môtô biển kiểm soát số 64F4- 8611, qua xá c minh là củ a anh Lê Văn V bị mất trộm ngày 21/5/2018 trên đườ ng X, Phườ ng H, thành phố V, nên Cơ quan điề u tra tá ch riêng để điề u tra xử lý sau.
Qua điề u tra P còn khai nhận , trướ c đó P cùng với Huỳnh Minh T đã thự c hiệ n hà nh vi trộ m cắ p tà i sả n như sau:
Khoảng 17 giờ , ngày 31/5/2018 Nguyễ n Hữ u P điề u khiể n xe môtô biể n kiể m soát số 64K9- 0368 chở Huỳ nh Minh T chạy vòng quanh các tuyế n đườ ng trên đị a bàn thành phố V để tìm nơi ăn uống . Khi chạ y ngang qua củ a hà ng điệ n má y Th u tại số 11, đườ ng T, Phườ ng M, thành phố V, tỉnh Vĩ nh Long do anh Nguyễ n Văn X làm chủ, P nhìn thấy trước cửa hàng có để nhiều thùng Loa trưng bày nhưng không có người trông coi, nên P nảy sinh ý định trộm cắp , P kêu T điề u khiể n xe quay lạ i để P vào lấ y trộ m thì T đồ ng ý , T điề u khiể n xe quay lạ i đậ u cá ch cử a tiệ m khoả ng 05 mét cho P đi đế n lấ y trộ m thù ng Loa, T thì đậu xe chờ , khi lấ y đượ c 01 thùng Loa mà u đen đem ra để lên xe ngồ i sau ôm để T chở về nhà P cấ t giấ u sử dụ ng. Khi phát hiện bị mất trộm anh X có trình báo với Công an Phường M, thành phố V, qua điề u tra P đã thừ a nhậ n hà nh vi phạ m tộ i , khi biế t đượ c sự việ c phạ m tộ i củ a P chị Nguyễ n Thị Thu L (vợ P) giao nộ p thù ng Loa cho Công an xử lý .
Theo kế t luậ n định giá tài sản số : 90/HĐĐG&TTHS, ngày 25/6/2018 của Hộ i đồ ng đị nh giá trong tố tụ ng hì nh sự kế t luậ n : Thùng Loa hiệu TEMEISHENG màu đen có giá trị là 2.250.000 đồ ng và sau đó đã trả lạ i tài sản cho bị hại xong.
Quá trình điề u tra T đã thừ a nhậ n toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i cù ng vớ i P như đã nêu trên.
Đối với biển kiểm soát xe số 64K9- 0368, qua xá c minh là biể n kiể m soát xe của anh Nguyễn Việt V bị mất trộm ngày 23/5/2018 trên đườ ng P, Phườ ng B, thành phố V, nên Cơ quan điề u tra tá ch riêng để điề u tra xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số: 87/CT-VKSNDTPV, ngày 08/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, đã truy tố bị cáo Nguyễ n Hữ u P về tộ i “ Cướ p giật tà i sản” và tội “Trộ m cắ p tài sản'' theo điểm d khoản 2 Điều 171 và khoản 1 Điề u 173 của Bộ luật Hình sự . Truy tố bị cá o Huỳ nh Minh T về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” theo khoản 1 Điề u 173 của Bộ luật Hình sự.
Sau khi các bị cáo nghe Kiểm sát viên đọc xong Cáo trạng các bị cáo không có ý kiến gì và đồng ý với nội dung Cá o trạ ng mà Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố V đã truy tố đố i vớ i các bị cáo.
Các bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa , trong đơn xin vắ ng mặ t có ý kiến là không có yêu cầu gì đối với các bị cáo, vì đã nhận lại được tài sản , về trá ch nhiệ m hì nh sự yêu cầ u xử lý theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà L, bà T có đơn xin vắng mặt tại phiên tò a, nhưng trướ c đó đã có lời khai tạ i cơ quan điề u tra.
Sau khi nghe lờ i trì nh bà y củ a các bị cáo tại phiên tò a. Quan điể m củ a Kiể m sát viên tại phiên tòa là giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo Cáo trạng số: 87/CT-VKSNDTPV ngày 08/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, đã truy tố bị cáo Nguyễ n Hữ u P về tộ i “Cướ p giậ t tà i sả n” và tội “Trộ m cắ p tài sản'' theo điểm d khoản 2 Điều 171 và khoản 1 Điề u 173 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Huỳnh Minh T về tộ i “ Trộ m cắ p tà i sả n ” theo khoản 1 Điề u 173 của Bộ luật Hình sự.
Khi luận tội xong, Kiể m sá t viên đề nghị phạt bị cáo Nguyễ n Hữ u P từ 03 năm đế n 04 năm tù, về tộ i “Cướ p giậ t tà i sả n ” và 09 tháng đến 01 năm tù , về tội “Trộ m cắ p tài sản''; đề nghị phạt bị cáo Huỳnh Minh T từ 06 tháng đến 01 năm tù , về tội “Trộ m cắ p tài sản'', về phầ n dân sự Kiể m sá t viên đề nghị không xem xé t vì các bị hại không có yêu cầu gì , về vật chứng (xe môtô) đề nghị không xem xé t xử lý trong vụ án này , vì đã tách ra để điều tra trong vụ án khác và đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Các bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận.
Kế t thú c phầ n tranh luậ n , các bị cáo nói lời sau cùng : Hai bị cá o có cù ng chung ý kiế n là “Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, bị cáo rất ăn năn, xin Hội đồng xét xử xem xét giả m nhẹ hình phạt cho bị cáo”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng: Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luậ t Hì nh sự :“2. Phạm tội thuộc mộ t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm”:
“d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Bị cáo P có hành vi dùng xe môtô để cướ p giậ t là dù ng thủ đoạ n nguy hiể m có thể gây ra hậ u quả khá c cho bị hạ i , hành vi của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giậ t tài sản” và khoản 1 Điề u 173 của Bộ luật Hình sự cũ ng có quy đị nh: “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồ ng đế n dướ i 50.000.000 đồ ng hoặ c dướ i 2.000.000 đồ ng nhưng thuộ c mộ t trong cá c trườ ng hợ p sau đây , thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặ c bị phạ t tù từ 06 tháng đến 03 năm”, hành vi của bị cáo P cùng với bị cáo T đã lợ i dụ ng sự sơ hở củ a bị hạ i , bị cáo đã lén lúc lấy trộm tài sản của bị hại, đượ c xá c đị nh tà i sả n có giá trị là 2.250.000 đồ ng, hành vi củ a hai bị cá o đã đủ yế u tố cấ u thà nh tộ i “ Trộ m cắ p tà i sả n ”. Các bị cáo thực hiện hành vi với vai trò đồ ng phạ m theo quy đị nh tạ i Điề u 17 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo, lời nhận tội của các bị cáo đã phù hợp với các chứ ng cứ thu thậ p đượ c trong quá trì nh điề u tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan và ngườ i là m chứ ng . Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố Nguyễ n Hữ u P về tộ i “ Cướ p giậ t tà i sả n ” và tội “Trộ m cắ p tài sản '' theo điểm d khoản 2 Điều 171 và khoản 1 Điề u 173 của Bộ luật Hình sự và tru y tố bị cá o Huỳnh Minh T về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” khoản 1 Điề u 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đú ng ngườ i, đú ng tộ i và đú ng phá p luậ t.
Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo cố ý xâm phạm đế n tà i sả n củ a ngườ i kh ác được pháp luật bảo vệ , bị cáo P dùng thủ đoạ n nguy hiểm, ngay tức khắc giậ t lấy tài sản của người khác, tài sản (điệ n thoạ i di độ ng) mà bị cáo xâm hại có giá trị đượ c xá c đị nh là 4.194.000 đồ ng và tà i sả n (thùng Loa) mà các bị cáo (P, T) lấ y trộ m có giá trị là 2.250.000 đồ ng. Ý thức của các bị cáo biết rõ hành vi nêu trên là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo cố tình thực hiện làm cho hậu quả xãy ra, các bị cáo có đủ năng lực về nhận thức cũng như điều khiển hành vi, nên các bị cáo phải chịu hình phạt do hành vi của các bị cáo đã gây ra. Xét thấy, hành vi của các bị cáo cần phải xử phạt nghiêm , nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội và góp phần ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương , cầ n phả i á p dụ ng hì nh phạ t tù cá ch ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định theo quy định tại Điều 38 của Bộ luậ t Hình sự, để cho các bị cáo có thời gian học tập, cải tạo và trở thành người công dân có ích cho xã hội sau này . Đối với các bị cáo thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i “ Trộ m cắ p tà i sả n” vớ i vai trò đồ ng phạ m theo quy đị nh tạ i Điề u 17 Bộ luậ t Hì nh sự , nên áp dụng Điều 58 của Bộ luật Hì nh sự để xem xé t vai trò củ a từ ng bị cá o trong vụ án, từ đó có mức hình phạt cho hợp lý. Vai trò thự c hiệ n hà nh vi phạ m tộ i trộ m cắ p tài sản của hai bị cáo là ngang nhau , bị cáo P thự c hiệ n, bị cáo T giúp sức (lái xe) tẩ u thoá t, đây là thuộ c đồ ng phạ m giả n đơn, không có tổ chứ c, tuy nhiên bị cá o P là ngườ i khở i xướng trước, đã rủ rê bị cá o T thự c hiệ n, tài sản lấy được thì bị cáo P sử dụng, nên cầ n xem xé t mứ c hình phạt đối với bị cáo P phải nghiêm khắc hơn bị cáo T trong tộ i “trộ m cắ p tà i sả n” mớ i là phù hợ p.
Xét về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không có tiền án, không có tiền sự, có nhân thân tốt , khi phạ m tộ i tro ng quá trình điều tra cũ ng như tạ i phiên tòa các bị cáo đã thật thà khai báo , ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả cho các bị hại xong, nên phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớ n, các bị cáo phạm tội trộ m cắ p tà i sả n là phạ m t ội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng , gia đì nh (ông Ngoạ i) bị cáo P có tham gia Cách mạng được tặng thưởng Huân Chương , nên có căn cứ cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điể m h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cá o P phạm nhiề u tộ i , nên á p dụ ng Điề u 55 của Bộ luậ t Hì nh sự để tổ ng hợ p hì nh phạ t của nhiề u tộ i cho bị cá o P là đúng quy định.
Từ nhữ ng căn c ứ nêu trên, xét thấy Kiể m sá t viên đề nghị mứ c hình phạt cho bị cá o P từ 03 năm đế n 04 năm tù về tộ i “Cướ p giậ t tà i sả n ” và 09 tháng đến 01 năm tù về tộ i “ Trộ m cắ p tà i sả n ”; đề nghị phạt bị cáo T từ 06 tháng đến 01 năm tù tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” theo tộ i danh, điề u luậ t mà Cá o trạ ng đã truy tố đối với các bị cáo là có cơ sở , nên Hội đồng xét xử chấ p nhậ n và sẽ xem xét , quyế t đị nh á p dụ ng hì nh phạ t cụ thể cho các bị cáo trong phần h ình phạt. Đồng thời việc đề nghị của Kiểm sát viên về phần dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp , nên Hộ i đồ ng xé t xử chấ p nhậ n.
Về hì nh phạ t bổ sung , theo quy định tạ i khoả n 5 Điề u 171 của Bộ luật Hình sự quy định “Ngườ i phạ m tộ i cò n có thể bị phạ t tiề n từ 10.000.000 đồ ng đế n 100.000.000 đồ ng” và khoản 5 Điề u 173 của Bộ luật Hình sự quy định “Ngườ i phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồ ng đế n 50.000.000 đồ ng”, do đó , các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền . Tuy nhiên, theo cá c tà i liệ u, chứ ng cứ trong hồ sơ vụ á n đượ c kiể m tra tạ i phiên tò a cho thấ y các bị cáo không có nghề nghiệ p , không có thu nhậ p , không có tà i sả n nào khác . Nên Hộ i đồ ng xé t xử không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạ t tiề n đố i vớ i các bị cáo.
Về trá ch nhiệ m dân sự , tài sản đã được thu hồi trả lại cho các bị hại, tại phiên tòa các bị hại không cò n yêu cầ u gì về tài sản, nên không giả i quyế t.
Về vậ t chứ ng trong vụ á n, cơ quan Cả nh sá t điề u tra đã xá c đị nh xe môtô và 01 bình Ắc quy có liên quan trong vụ á n khá c , nên tá ch ra để điề u tra , vì vậy không xử lý trong vụ á n nà y.
Các bị cáo còn phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiề n 200.000 đồ ng, theo quy định tại điể m a khoả n 1 Điề u 23 Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và khoản 2 Điề u 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễ n Hữ u P phạm tội “Cướp giậ t tài sản” và “Trộm cắ p tà i sả n”.
2. Tuyên bố : Bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội “Trộ m cắ p tà i sả n”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; khoản 1 Điề u 173; Điề u 38; khoản 1 Điề u 17; Điề u 58; điể m h, i, s khoả n 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự đố i vớ i bị cá o Nguyễ n Hữ u P; xử phạ t bị cá o Nguyễ n Hữ u P 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giậ t tài sản” và 09 (chín) tháng tù về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” . Tổ ng hợ p hình phạt của hai tội, buộ c bị cá o P phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thờ i gian chấ p hà nh hì nh phạ t tù đượ c tính từ ngày 15/6/2018.
- Áp dụngkhoản 1 Điề u 173; Điề u 38; khoản 1 Điề u 17; Điề u 58; điể m h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T - 06 (sáu) tháng tù. Thờ i hạn chấ p hà nh hì nh phạ t tù của bị cáo được tính từ ngày bắ t bị cáo thi hành án.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
3. Trách nhiệm dân sự:
Tài sản đã được thu hồi trả lại cho các bị hại xong.
4. Về trách nhiệm nộp á n phí:
Áp dụ ng khoản 2 Điề u 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụng hình sự và điể m a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội . Buộ c mỗ i bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngà n đồ ng) tiề n á n phí hì nh sự sơ thẩ m.
5. Về quyề n khá ng cá o:
Các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị hại và các ng ười có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thờ i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n hoặ c bả n á n đượ c niêm yế t theo quy đị nh củ a phá p luậ t.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhậ n:
| - TAND tỉ nh Vĩ nh Long; - VKSND TP V; - VKSND tỉ nh Vĩ nh Long; - CC THA DS TP V; - Bị cáo; bị hại; - Ngườ i có liên quan; - Lưu hồ sơ vụ á n. | TM. HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ SƠ THẨ M THẨ M PHÁ N - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký ) Hồ Thanh Hồ ng |