vanban.org

Bản án 96/2018/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 04/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thào Lao S phạm tội Trộm cắp tài sản.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thào Lao S phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2018/HSST
Ngày 04 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Khiển

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hằng, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hữu Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Thào Lao S, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1991 X, Hủa Phăn, Lào; Nơi cư trú: Bản N, cụm hành chính M, huyện X, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 4/12 (Lào); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Lào; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Thào Lao Chvà con bà Mùa Thị V (đã chết); bị cáo có vợ là Vàng Thị D; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Phàng Lao L, Tên gọi khác: Không; sinh năm 1984; nơi cư trú: Bản Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La (vắng mặt tại phiên tòa).

- Người phiên dịch cho bị cáo: Bà Lò Quỳnh H. Sinh năm: 1987; nơi cư trú: Tổ…., phường L, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Thào Lao S bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Thào Lao S là đối tượng nghiện ma túy, đăng ký hộ khẩu và sinh sống tại bản N, cụm hành chính M, huyện X, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào tiếp giáp với khu vực xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La. S thường xuyên đến khu vực xã T chơi. Tại đây, S biết người dân xã T thường xuyên để xe mô tô ở ngoài sân và không khóa cổ. S nảy sinh ý định trộm vắp xe mô tô mang bán để lấy tiền mua ma túy sử dụng.

Khoảng 19 giờ ngày 04/3/2018, S đi bộ từ nhà đến bản Đ, xã T, huyện Y, mục đích để trộm cấp xe mô tô. Khi đi, S mang theo 01 chiếc kéo bằng kim loại màu đen và 01 đèn pin loại treo ở đầu. Khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, S đi đến nhà anh Phàng Lao L, quan sát gia đình anh L đã tắt điện đi ngủ, phía trước cửa bếp có 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, kiểu xe Wave, biển kiểm soát 26K8-3677. S tiến lại gần chiếc xe, dùng chiếc kéo mang theo tháo rời hai ốc vít trên cánh yếm bên phải của xe mô tô, tạo khe hở rồi dùng kéo cắt dây điện, đấu nối lại và dắt chiếc xe mô tô ra đường. Khi S dắt xe ra ngoài thì bị anh L phát hiện và tri hô. S khởi động xe mô tô điều khiển xe theo hướng đến bản Pa Kha 1, xã T, huyện Y chạy thoát. Anh L đã gọi điện thoại báo Ban công an xã T và Công an huyện Y cùng truy bắt S. Tổ công tác công an huyện Y và Công an xã T đã cùng anh L truy đuổi đến khu vực ngã ba gần trường tiểu học T A, xã T thì chặn bắt được S. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thào Lao S, thu giữ vật chứng là 01 chiếc xe máy, 01 chiếc kéo kim loại và 01 đèn pin loại treo ở đầu.

Ngày 05/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu xe Wave, BKS 26K8-3677 do Thào Lao S trộm cắp.

Ngày 06/3/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y đã có Kết luận số 08, xác định: Giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu xe Wave, BKS 26K8-3677 là 11.400.000 đồng

Ngày 22/3/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành giao trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu xe Wave, BKS 26K8-3677 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Phàng Lao L. Anh Phàng Lao L không có yêu cầu và đề nghị gì thêm.

Tại Cáo trạng số 60/CT-VKS-P3 ngày 12/6/2018 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Thào Lao S về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo Thào Lao S thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu: Ngày 04/3/2018, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của gia đình anh Phàng Lao L, bị cáo Thào Lao S đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda BKS 26K8-3677 của anh Phàng Lao L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Thào Lao S phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Thào Lao S từ 12 đến 18 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Thào Lao S nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Y, Sơn La; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Thào Lao S:

Ngày 04/3/2018, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của gia đình anh Phàng Lao L, bị cáo Thào Lao S đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda BKS 26K8-3677 của anh Phàng Lao L. Hành vi phạm tội của bị cáo Thào Lao S được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Y lập hồi 22 giờ 20 phút ngày 04/3/2018 tại bản Pa Kha 1, xã T, huyện Y, tỉnh Sơn La đối với Thào Lao S về hành vi trộm cắp tài sản.

- Đơn đề nghị ngày 05/3/2018 của anh Phàng Lao L về việc bị mất trộm tài sản.

- Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 05/3/2018 tại bản Đ, xã T, huyện yên Châu, tỉnh Sơn La đã xác định vị trí nơi xảy ra mất trộm chiếc xe máy là dưới mái hiên trước cửa bếp nhà anh Phàng Lao L.

- Kết luận định giá tài sản số 08 ngày 06 tháng 3 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Y xác định: Trị giá tài sản cần định giá (01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS 26K8-3677) là 11.400.000 đồng.

- Lời khai nhận về hành vi phạm tội của Thào Lao S phù hợp với lời khai của bị hại Phàng Lao L, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, các tài liệu, vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra đã xác định bị cáo Thào Lao S đã có hành vi trộm cắp tài sản.

Từ các căn cứ như đã nêu trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Thào Lao S phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Thào Lao S đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Honda, loại xe Wave, BKS 26K8-3677, có trị giá 11.400.000 đồng, thuộc trường hợp “trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng” đã vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự nhưng xét thấy bị cáo không có khả năng thi hành nên không áp dụng.

Do bị cáo là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là trục xuất theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt:

Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án:

Đối với vật chứng là chiếc xe máy Honda, loại xe Wave, BKS 26K8-3677 và đăng ký xe, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Phàng Lao L. Ngày 22/3/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe trên cho anh Phàng Lao L. Xét việc trao trả chiếc xe trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với số vật chứng chiếc kéo kim loại và chiếc đèn pin loại treo ở đầu, được xác định là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Thào Lao S phạm tội Trộm cắp tài sản.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Thào Lao S 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/3/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 37 Bộ luật Hình sự: Trục xuất bị cáo Thào Lao S ra khỏi lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kéo bằng kim loại màu đen, dài 20 cm, đã qua sử dụng; 01 chiếc đèn pin, loại treo ở đầu, vỏ màu vàng xanh, đã qua sử dụng (thu giữ của Thào Lao S trong vụ án).

3. Về án phí: Áp dụng khoản khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí: Buộc bị cáo Thào Lao S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ