- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc H 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, không khấu trừ thu nhập của bị cáo; thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành bản án và trích lụ…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật hình sựcũng
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:96/2018/HS-ST Ngày: 26/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Trực; nghề nghiệp: Giáo viên; nơi công tác: Trường Trung học cơ sở Hùng Vương, thành phố Huế.
Bà Trần Thị Thanh Xuân; nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí phường Phú Bình, thành phố Huế.
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Nữ Như Quỳnh, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: ÔngLê Bá Tuấn, Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế (Địa chỉ: 60 Nguyễn Huệ, phường Vĩnh Ninh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2018/TLST-HS ngày 09tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc H (tên khác: B ), sinh ngày 19 tháng 5 năm 2001 tại tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1975 và bà Tạ Thị N (đã chết); chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Không.
Nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, đi học đến hết lớp 9/12 thì nghỉ học. Sau đó học nghề sửa xe, rồi làm thuê cho đến nay. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Ngọc H:
Ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc H:
Ông Đặng Bá Q- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
* Bị hại: Công ty Cổ phần E.
Đại chỉ: Khu quy hoạch Đ, đường B, phường P, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông J; chức danh: Tổng Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị Thu T; chức danh: Giám đốc siêu thị. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
(Theo văn bản ủy quyền số 01/2017/POA-Hue/SM ngày 04/8/2017 của Công ty Cổ phần E)
* Người làm chứng:
- Ông Hoàng Xuân P, sinh năm 1984; nơi cư trú: 27B/59 đường D, phường A, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Ông Đặng Văn P, sinh năm 1991; nơi cư trú: 14/7 kiệt 60 đường L, phường Đ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Anh Trần Khoa B, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn M, xã P, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/02/2018, Phạm Ngọc H đi xe khách từ Đồng Nai về quê ở Quảng Bình ăn tết. Do thiếu tiền mua sắm đồ dùng cá nhân, nên H nảy sinh ý định vào siêu thị Big C H (trực thuộc Công ty cổ phần E) để trộm cắp tài sản. Khoảng 11 giờ ngày 12/02/2018, H mang theo 01 cái ba lô đi lên tầng 3 của siêu thị Big C H, lấy một cái giỏ giả vờ đi mua hàng. Sau đó, H lấy 01 cái kềm, rồi đi từng gian hàng xem loại nào ưng ý thì bỏ vào giỏ. Tiếp đó, H đi vào phòng thay đồ, dùng kềm cắt thiết bị chống trộm gắn trên từng loại hàng hóa, rồi bỏ vào ba lô của mình để mang ra ngoài. Khi H đi cầu thang cuốn xuống tầng 1 của siêu thị, thì bị lực lượng bảo vệ phối hợp với an ninh siêu thị bắt giữ cùng tang vật, chuyển cho cơ quan Công an xử lý. Riêng các thiết bị chống trộm, sau khi cắt rời khỏi hàng hóa, Hào bỏ lại tại giỏ đựng hàng của siêu thị.
Vật chứng đã thu giữ gồm:
- 01 (một) đôi giày nữ, màu xanh đen, bằng vải có hiệu Galanti;
- 01 (một) đôi giày thể thao nữ màu trắng hồng, hiệu Bitis; có mã số 8934569610672;
- 01 (một) đôi giày thể thao nam màu xanh, bằng vải; có mã số 8935200615919;
- 01 (một) đôi giày thể thao nam màu đen, hiệu Bitis; có mã số 89354562911790;
- 01 (một) áo sơ mi nam, tay dài, hiệu Welkin, màu xanh trắng;
- 01 (một) áo da màu đen, hiệu Welkin;
- 02 (hai) quần lót nam (trong đó: 01 quần hiệu Bitis màu đen và 01 quần hiệu J-me màu xám);
- 01 (một) bình xịt ngăn mùi hiệu Romano màu đen; có mã số 8935212811699;
- 01 (một) hộp sữa rửa mặt hiệu Nivea màu xám, có mã số 4005808888368;
- 02 (hai) hộp gen vuốt tóc màu xanh, hiệu X-men (trong đó: 01 hộp hiệu Clean cut có mã số 8935136860568 và 01 hộp hiệu Spiky có mã số 8935136860551);
- 04 (bốn) bộ đèn trang trí (đèn nháy);
- 01 (một) đôi bao tay da màu đen, hiệu Monster Energy;
- 01 (một) quần kaki nam dài, màu tím; có mã số 8935096109219;
- 01 (một) quần kaki nam dài, màu đen; có mã số 8935096134686;
- 01 (một) chai nước súc miệng hiệu P/s;
- 02 (hai) đôi vớ nam màu trắng, hiệu J-me;
- 01 (một) dây nịt màu đen; có mã số 8935202127274;
- 01 (một) cây kìm bằng sắt, màu xanh trắng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐĐG ngày 12/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Huế kết luận: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, tất cả các tài sản nêu trên có tổng giá trị 4.434.100 đồng (Bốn triệu bốn trăm ba mươi bốn nghìn một trăm đồng).
Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng gồm:
- 01 (một) ba lô màu xám đen;
- 02 (hai) tấm hình có kích thước 10cm x 15cm, được trích ra từ Camera siêu thị BigC Huế, kèm 01 (một) đĩa VCD chứa dữ liệu liên quan đến vụ trộm tài sản nêu trên.
Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKS ngày 08/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc H về tội: “Trộm cắp tài sản” theokhoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáoPhạm Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụngkhoản 1 Điều 173; điểmh, i, skhoản 1, khoản 2Điều 51;Điều 91; Điều 100Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H từ 06 tháng đến09 tháng cải tạo không giam giữ.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại toàn bộ tài sản đã thu giữ cho Công ty cổ phần Espace Business Huế. Bà Võ Thị T (là người đại diện theo ủy quyền) đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 ba lô màu xám đen của Phạm Ngọc H dùng vào việc phạm tội. Đề nghị tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án 02 (hai) tấm hình có kích thước 10cm x 15cm, được trích ra từ Camera siêu thị BigC H, kèm 01 (một) đĩa VCD chứa dữ liệu liên quan đến vụ án.
Ông Đặng Bá Q bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc H nhất trí với tội danh và điều khoản Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát đã áp dụng để truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 100 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo 06 tháng cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Phạm Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp khách quan vớivới lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 11/02/2018, Phạm Ngọc H đi xe khách từ Đồng Nai về quê ở Quảng Bình ăn tết. Do thiếu tiền mua sắm đồ dùng cá nhân, nên Hào nảy sinh ý định vào siêu thị Big C H (trực thuộc Công ty cổ phần E) để trộm cắp tài sản. Khoảng 11 giờ ngày 12/02/2018, tại tầng 3 của siêu thị BigC H, Phạm Ngọc H mang theo 01 ba lô màu xám đen, vào các quầy hàng của siêu thị, lén lút chiếm đoạt nhiều loại tài sản như áo, quần, giầy… có tổng trị giá là 4.434.100 đồng (Bốn triệu bốn trăm ba mươi bốn nghìn một trăm đồng), khi bị cáo đi cầu thang cuốn xuống tầng 1 của siêu thị, thì bị lực lượng bảo vệ phối hợp với an ninh siêu thị bắt giữ cùng tang vật. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây thiệt hại cho bị hại mà còn gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, thế nhưng do muốn hưởng lợi từ công sức lao động của người khác nên bị cáo đã phạm tội. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạttương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cũng cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; theo tài liệu trong hồ sơ vụ án, bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đâylà các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm phạm tội nên áp dụng Điều 91 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do bị cáo có nhân thân tốt, không phạm vào tình tiết tăng nặng hình phạt nào, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ theo Điều 36, Điều 100 Bộ luật hình sựcũng có khả năng cải tạo, giáo dục, giúp bị cáo sửa chữa sai lầm.Do bị cáo dưới 18 tuổi nên không khấu trừ thu nhập của bị cáo.
Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy xử phạt bị cáo như mức đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại toàn bộ tài sản đã thu giữ cho Công ty cổ phần E. Bà Võ Thị T (là người đại diện theo ủy quyền) đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo đã sử dụng 01 (một) ba lô màu xám đenlàm công cụ phạm tội, nay không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy. Đối với 02 (hai) tấm hình có kích thước 10cm x 15cm, được trích ra từ Camera siêu thị BigC H, kèm 01 (một) đĩa VCD chứa dữ liệu liên quan đến vụ án nên cần tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án.
Về án phí:Bị cáo Phạm Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, do bị cáo Phạm Ngọc H chưa đủ 18 tuổi nên người đại diện hợp pháp phải nộp thay cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 47; Điều 91; Điều 100Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc H 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, không khấu trừ thu nhập của bị cáo; thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành bản án và trích lục bản án.
Giao bị cáo Phạm Ngọc H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ba lô màu xám đen có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.
- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 02 (hai) tấm hình có kích thước 10cm x 15cmđược trích ra từ Camera siêu thị BigC H, kèm 01 (một) đĩa VCD chứa dữ liệu liên quan đến vụ án.
Về án phí:Ông Phạm Ngọc H là đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Ngọc H phải nộp thay cho bị cáo số tiền 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, thông báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.Bị hại vắng mặtcó quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh TT Huế; - Sở Tư phá p; - VKSND thành phố Huế; - Cơ quan CATP Huế; - Phòng PV27 Công an tỉnh TT Huế; - Chi cục Thi hành án dân sự tp Huế; - Bị cáo; - Bị hại, người có QLNVLQ, người đại diện hợp pháp,người bảo chữa (nếu có); - THA HS; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thúc Mỹ |