- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Quyền E - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Quyền E phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2018/HS-ST Ngày: 21 - 6 - 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thanh Vân – Nguyên giáo viên Trường Tiểu học Hưng Phú
2/ Bà Đặng Thị Huê – Cán bộ Hưu trí Phường 10, Quận 8.
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Khuê – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 78/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 106/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu Quyền E (tên gọi khác: Đen); giới tính: Nam; sinh năm: 1981; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: A6-03 chung cư M, Khu phố 1, phường P, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: C12/39A1, Tổ 234, Ấp 5, xã BH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Hữu L và bà Phan Thị A; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 26/12/1998, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù Nng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Ngày 21/9/1999, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án buộc phải chấp hành hình phạt tù chung là 33 tháng. Chấp hành xong 02 bản án ngày 31/12/2007.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 29/12/2017 cho đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Anh Huỳnh Tấn N; sinh ngày 04/02/2000; nơi cư trú: Phòng 1, nhà trọ E12/358/1B, Tổ 12, Ấp 5, xã ĐP, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Phan Thị A; sinh năm: 1959; nơi cư trú: C122/39A1, Tổ 234, Ấp 5, xã BH, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt N sau:
Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 29/12/2017, Nguyễn Hữu Quyền E điều khiển xe gắn máy biển số 59L1-095.86 đi từ hướng Phường 10, Quận 8 đến đường Xóm Củi, Phường 11, Quận 8. Khi đến trước số 143 đường Xóm Củi, E thấy Huỳnh Tấn N đang đi xe đạp phía trước cùng chiều, trên lưng N có đeo 01 ba lô bên ngoài có để 01 điện thoại di động kết nối với tai nghe. E nảy sinh ý định cướp giật nên điều khiển xe chạy áp sát bên trái của N rồi dùng tay giật làm điện thoại rơi xuống đường. E dừng xe lại nhặt điện thoại lên và điều khiển xe tăng ga tẩu thoát. N tri hô cùng quần chúng nhân dân đuổi theo đến trước số 309 đường V, Phường M, Quận X thì bắt giữ được E cùng vật chứng. Thu giữ của E 01 điện thoại di động Sonim XP1 có số Imei: 359676012120485 rồi giao Công an Phường 11 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Ngày 07/02/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 kết luận: 01 điện thoại Samsung A5 màu đen và 01 dây đeo tai nghe màu trắng hiệu Samsung có tổng giá trị 3.090.000 đồng.
Ngày 12/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã trả điện thoại trên cho Huỳnh Tấn N. Riêng dây đeo tai nghe Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không thu hồi được. N không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Đối với xe gắn máy biển số 59L1-095.86, qua xác minh do Phan Thị A (là mẹ của E) đứng tên chủ sở hữu, E sử dụng làm phương tiện phạm tội bà Bảy không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã trả cho chủ sở hữu.
Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 09/4/2018 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Hữu Quyền E về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa,
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội N trên.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù theo điểm d khoản 2 Điều 136, các điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định N sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, khoảng 09 giờ 30 ngày 29/12/2017, tại trước số 143 đường Xóm Củi, Phường 11, Quận 8, Nguyễn Hữu Quyền E điều khiển xe gắn máy biển số 59L1-095.86 phát hiện em Huỳnh Tấn N đang đạp xe trên lưng N có đeo 01 ba lô, bên ngoài có để 01 điện thoại di động Samsung A5 kết nối với tai nghe. E đã điều khiển xe áp sát bên trái của N rồi dùng tay giật làm điện thoại rơi xuống đường, E dừng xe lại nhặt điện thoại rồi tăng ga tẩu thoát. Sau đó, E bị quần chúng bắt giữ. N bị giật điện thoại và tai nghe trị giá 3.090.000 đồng. N vậy, bị cáo đã có hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của N, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Bị cáo dùng xe gắn máy làm phương tiện phạm tội. Hành vi của bị cáo là có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại, người đi đường. Đây là thủ đoạn nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội nên tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi một phần trả cho bị hại nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Về vật chứng vụ án:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã trả cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết.
01 điện thoại di động hiệu Sonim XP1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Quyền E phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 136; các điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Quyền E 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2017.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu Quyền E 01 (một) điện thoại di động hiệu Sonim XP1 có số Imei: 359676012120485.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 71/PNK ngày 14/3/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8).
Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Tp.Hồ Chí Minh; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - PC.53; - Sở Tư pháp Tp.Hồ Chí Minh; - Đội CSBV&HTTP, NTG Quận 8; - Đội CSĐT THCA Quận 8; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. (14) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Bá Hiệp |