vanban.org

Bản án 96/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 13/11/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thành V và 01 bị cáo - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 133 Bộ luật hình sự năm
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
TỈNH!ĐĂK!NÔNG!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2018/HS-PT!
Ngày 13-11-2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!ĐĂK!NÔNG!

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Chiến;!

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Đồng Chung và ông Phạm Văn Cảnh;

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Ngọc Thanh là Thẩm tra Phạm Thành V Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên –Kiểm sát viên.

Ngày 13-11-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 97/TLPT-HS ngày 16-10-2018 đối với bị cáo Phạm Thành V và 01 bị cáo, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2018/HSST ngày 05-9-2018 của Toà án nhân dân thị xã G, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2018/QĐXXPT – HS ngày 01-11-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm!Thành!V, sinh năm 1992 tại Bình Định; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không: con ông Phạm K (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1956; có vợ là Phạm Thị Ngọc L và 02 con; bị bắt tạm giữ ngày 24-01-2018 đến ngày 12-02-2018 được tại ngoại – Có mặt.

2. Phạm!Minh!V, sinh năm 1995 tại Bình Định; nơi cư trú: thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không: con ông Phạm K (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1956; bị bắt tạm giữ ngày 24-01-2018 đến ngày 12-02-2018 được tại ngoại – Có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Trọng L, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã G, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:!Vào tối ngày 23-01-2018, tại phòng số 01 nhà nghỉ Ngọc T thuộc Thôn T, xã Q, thị xã G, các bị cáo Phạm Thành V, Phạm Minh V cùng Lương Đình N (là người thuê phòng số 01 nhà nhỉ Ngọc T), các anh Hồ Văn V, Lê Đình K, Võ Văn P, chị B (vợ của N); chị Hoàng Thị Phương T, chị T và chị T1 ngồi uống rượu và hát karaoke. Đến 22 giờ cùng ngày thì chị T, Trang và anh Kđi về, lúc này có anh Nguyễn Trọng L và anh Hồ Sỹ K ở cùng dãy phòng trọ với N đến ngồi cùng uống rượu.!

Đến khoảng 22 giờ 30 phút thì giữa N và Kiên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau to tiếng nên anh Kiên bỏ về phòng trọ. Quá trình ngồi uống rượu thì anh L và N tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Đến 23 giờ thì mọi người nghỉ không uống rượu nữa mà đi về, khi anh L đi ra khỏi phòng của N thì N đi theo anh L, đồng thời gọi Minh và Phạm Minh V quay lại, khi nghe tiếng N gọi, Phạm Thành V và Phạm Minh V đã biết giữa N và anh L có mâu thuẫn trước đó nên sẽ xảy ra đánh nhau nên Phạm Thành V và Phạm Minh V quay lại giúp N đánh anh L. N hỏi anh L “Phòng thằng K ở đâu” nhưng anh L không trả lời, N dùng tay phải đánh một cái trùng vào mặt của anh L, bị đánh anh L ngồi xuống hai tay ôm mặt, thấy vậy Phạm Thành V và Phạm Minh V cũng lao vào dùng tay, chân đánh vào vùng lưng và mặt của anh L. Lúc này anh Phi đang đứng ngoài đường, nghe tiếng ồn ào nên chạy vào can ngăn không cho Phạm Thành V, Phạm Minh V và N đánh anh L, N lấy một cục đã bê tông gần đó (kích thước to bằng bàn tay) đứng đối diện anh L, đập 1 cái từ trên xuống trúng vào đỉnh đầu của anh L, làm anh L bất tỉnh nằm dưới sân. Phạm Thành V và Phạm Minh V tiếp tục dùng chân đá anh L 01 đến 02 cái rồi bỏ đi về nhà. Anh L được mọi người đưa đi cấp cứu. Ngày 24-01-2018, Phạm Thành V và Phạm Minh V đến Công an thị xã G đầu thú, còn N thì bỏ trốn.

Vật chứng vụ án: Không thu giữ được nên không đưa ra xem xét giải quyết.

Tại Kết luận giám định pháp y kết luận: Tổng tỷ lệ thương tích của anh Nguyễn Trọng L là 14%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2018/HSST ngày 05-9-2018 của Toà án nhân dân thị xã G đã quyết định:

1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V mỗi bị cáo 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 24-01-2018 đến 12-02-2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V cho bị hại anh Nguyễn Trọng L số tiền 20.000.000 đồng, các bị cáo đã bồi thường xong.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 20-9-2018, các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V kháng cáo xin giảm mức hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Các bị cáo thừa nhận Tòa án nhân dân thị xã G xử phạt các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2018/HSST ngày 05-9-2018 của Toà án nhân dân thị xã G.

Các bị cáo không bào chữa, tranh luận gì chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo,

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

[1]. Lời khai của các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V tại phiên tòa phúc thẩm hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm thể hiện: Vào khoảng 23 giờ ngày 23-01-2018, xuất phát từ mẫu thuẫn giữa anh Nguyễn Trong Lợi với đối tượng Lương Đình N; N, Phạm Thành V và Vường đã có hành vi đánh anh L, N dùng tay đánh vào mặt anh L, bị đánh anh L ngồi xuống lấy tay ôm mặt thì bị Phạm Thành V và Phạm Minh V dùng tay, chân đánh vào vùng lưng và mặt, N dùng 01 Phạm Thành V đá bê tông đánh một cái từ trên xuống trúng vào đỉnh đầu làm anh L bất tỉnh ngã ra sân, Phạm Thành V và Phạm Minh V tiếp tục dùng chân đá vào người của anh L; hậu quả anh L bị tổn thương với tổng tỷ lệ thương tật 14%. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã G xử phạt các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo của các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V là đồng phạm cùng với Lương Đình N đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Trọng L. Tuy nhiên, đây là đồng phạm giản đơn, hai bị cáo nhất thời phạm tội, đồng thời tỷ lệ thương tích 14% là do N dùng cục đá bê tông gây ra. Các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V chỉ dùng tay chân đánh vào mặt, lưng anh L. Sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú, thật thà khai báo ăn năn hối cải, hoàn cảnh khó khăn phải đi làm thuê nhưng đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại số tiền 20.000.000 đồng, phía bị hại đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ cho các bị cáo, hai bị cáo là hai anh em ruột cho nên mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới, nhưng xét thấy cần chấp nhận kháng cáo giảm một phần hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Phạm Minh V xét thấy không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội, có đủ điều kiện theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để cho hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú cùng gia đình giám sát giáo dục nhưng vẫn đảm bảo tính răn đe phòng ngừa và cũng là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2018/HSST ngày 05-9-2018 của Toà án nhân dân thị xã G về phần hình phạt.

[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Thành V và bị cáo Phạm Minh V, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2018/HSST ngày 05-9-2018 của Toà án nhân dân thị xã G về phần hình phạt.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phạm Minh V). Xử phạt:

Bị cáo Phạm Thành V 01 (Một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 24-01-2018 đến 12-02-2018.

Bị cáo Phạm Minh V 01 (Một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Phạm Minh V cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát đó.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Phạm Thành V và Phạm Minh V không phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng nghị, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!

- TAND cấp cao tại Tp. HCM;

Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa!

- VKSND tỉnh Đắk Nông;

- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;

- Phòng HSNVCS – CA tỉnh Đắk Nông;

- Công an thị xã G;

Đã ký

- TAND thị xã G;

- VKSND thị xã G;

- Chi cục THADS thị xã G;

- Bị cáo; lưu: THCTP, HSVA.

Nguyễn!Xuân!Chiến!

!

!

!

!

! TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN

COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TÆNH ÑAÊK NOÂNG!

Ñoäc laäp – Töï do – Haïnh phuùc

Toaø Hình söï!

!

PHIẾU!ĐỀ!XUẤT!!

!

Vụ!án:!Phạm Thành V bị Tòa án nhân dân thị xã G xét xử sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm khoaûn 1 Ñieàu 138 của Bộ luật hình sự năm 1999. !

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Ngày 14/3/2018, Phạm Thành V mang theo một mũ bảo hiểm, một biển số xe máy 81T1 – 107.36 và một số tư trang cá nhân bỏ vào túi xách rồi cầm theo một tuốc nơ vít để trong túi quần, với mục đích là trộm cắp xe máy. Sau đó, Bình mang túi xách ra cất dấu ngoài mương thoát nước, cách nhà 100 mét, rồi đi nhờ xe của một người đàn ông, đi ra trường cấp 3 Nguyễn Tất Thành, thuộc thôn Quảng Chánh, xã Nghĩa Thắng, vì Bình nghĩ ở trường có nhiều xe máy để sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, thì học sinh trường Nguyễn Tất Thành tan trường ra về, Bình thấy Nguyễn Văn Phú là hàng xóm của Bình, nên Bình nói Phú lấy xe chở Bình về. Khoảng 30 phút sau, Phú lấy xe EXCITER màu xanh, trắng ra cổng trường Nguyễn Tất Thành đón Bình. Bình bảo Phú đưa xe cho Bình điều khiển. Khi đi qua cổng trường khoảng 100 mét thì Bình thấy tại đường luồng ở bên trái đường có một số xe máy đang dựng, không có người trông coi. Thấy vậy, Bình quay xe máy lại và chạy thẳng vào chỗ có mấy chiếc xe máy đang dựng, Bình dựng xe máy của Phú bên cạnh một chiếc xe máy EXCITER màu trắng – xanh, BKS 48H1 – 015.13. Sau đó, Bình đưa chìa khóa xe máy cho Phú, cả hai vào tiện internet, Bình nói với Phú: “Vào chơi đi”, Bình quay ra tìm xe để trộm cắp. Bình đến chỗ chiếc xe EXCITER BKS 48H1 – 015.13, lấy tuốc nơ vít trong túi quần ra, cắm vào ổ khóa và phá khóa chiếc xe máy trên rồi nổ máy chạy về sang Lâm Đồng để đi về thành phố Hồ Chí Minh. Đi được 05 km, Bình chạy xe vào một rẫy cà phê ven đường rồi tháo BKS 48H1 – 015.13 thay vào BKS 81T1 – 107.36 nhằm tránh sự phát hiện của Công an. Sau đó, Bình tiếp tục điều khiển xe về tỉnh Lâm Đồng. Khi đi được 20km thì gặp một chốt chặn của bộ đội chặn lại nên Bình tăng ga bỏ chạy, chạy khoảng 500 mét, Bình vứt xe lại ven đường và chạy bộ vào rừng. Bình chạy vào nhà dân gần đó để tránh sự truy đuổi thì bị Công an bắt giữ.

Tại kết luận định giá tài sản ngày 15/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G kết luận: xe máy EXCITER màu trắng – xanh, BKS 48H1 – 015.13 tại thời điểm xảy ra sự việc có giá là 30.000.000 đồng.

QUYẾT!ĐỊNH!CỦA!BẢN!ÁN!SƠ!THẨM:!

Tại bản án số 10/2018/HSST ngày 5/4/2018 của Toà án nhân dân thị xã G đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phạm Thành V phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 1 Điều 133 của Bộ luật hình sự năm; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Phạm Thành V 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng nghị.

Ngày 16/7/2018, bị cáo Phạm Thành V kháng nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN!ĐỊNH:!

Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Thành V về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 133 của Bộ luật hình sự năm là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng nghị xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Thành V, xét thấy: Tòa án nhân dân thị xã G xử phạt bị cáo Phạm Thành V 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đấy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cũng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng nghị của người bị hại mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Do kháng nghị không được chấp nhận nên bị cáo Phạm Thành V phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

ĐỀ!XUẤT:!

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng nghị của người bị hại Phạm Thành V, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Áp dụng khoản 1 Điều 133 của Bộ luật hình sự năm; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Phạm Thành V 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về án phí: bị cáo Phạm Thành V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Cỡ chữ