- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ D đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Xuân P (Giấy chứng nhận kết hôn số 125 do Ủy ban nhân dân phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04 tháng 8 năm 2016).
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG ——————— Bản án số: 96/2018/HNGĐ-ST Ngày 17-8-2018 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Từ Anh Tuấn.
2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 754/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 113/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mỹ D, sinh năm 1989; thƣờng trú: Ấp L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: Số 96/13 khu phố B, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân P, sinh năm 1989; thƣờng trú: Ấp L, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở trƣớc khi bị tạm giam: Số 96/13 khu phố B, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 7 năm 2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chi ̣ Võ Thị Mỹ D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Xuân P sau thời gian tìm hiểu khoảng hơn 03 tháng thì kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 04 tháng 8 năm 2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 125. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng thuê nhà trọ chung sống. Từ đó đến nay đã thay đổi nhiều nhà trọ khác nhau tại thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Gần đây nhất, vợ chồng chung sống tại địa chỉ 96/13 khu phố B, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Đến khoảng tháng 3/2018 thì anh P bị công an thị xã Dĩ An bắt về hành vi hành hạ con, còn chị thì về nhà mẹ ruột tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang sinh sống cho đến nay.
Hai vợ chồng chung sống không hạnh phúc ngay từ những ngày đầu hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn do anh P thƣờng xuyên sử dụng bạo lực với chị và con gái riêng của chị là bé Lê Võ Phƣơng U (7 tuổi). Nhiều lần chị chứng kiến con mình bị anh P đánh nhƣng không dám can ngăn. Trong thời gian chung sống, anh P đã nhiều lần đánh đập con gái riêng của chị gây thƣơng tích. Sự việc này có nhiều ngƣời chứng kiến. Ngày 26/8/2018, anh P bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử về tội “Hành hạ con” và bị kết án với mức án ba năm tù. Nay chị xác định mâu thuẫn gia đình quá lớn, vợ chồng không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh P.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chƣa có con chung.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồ ng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Theo bản tự khai ngày 30 tháng 7 năm 2018, bị đơn anh Nguyễn Xuân P trình bày:
Anh và chị D có thời gian tìm hiểu nhau khoảng hơn một năm rƣỡi thì tiến tới kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 04 tháng 8 năm 2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 125, việc kết hôn là tự nguyện và có tổ chức lễ cƣới. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở nhiều nơi tại thị xã D, nơi cƣ trú cuối cùng trƣớc khi anh bị công an bắt là nhà trọ số 96/13 khu phố B, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng về tội hành hạ con. Cuộc sống vợ chồng bình thƣờng và không có mâu thuẫn gì. Còn về việc anh bị xét xử về hành vi “Hành hạ con” là do con anh lì lợm, quậy phá nên anh mới đánh để dạy dỗ chứ không phải nhằm mục đích gì khác. Bản thân anh không hề sử dụng bạo lực với chị D nhƣ chị D trình bày. Anh P xác định hiện nay anh vẫn còn yêu thƣơng chị D nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chƣa có con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Anh P không đồng ý ly hôn nên không có ý kiến về tài sản.
Ý kiến của đ ại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, Hô ̣i đồng xét xƣ̉ , nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về hôn nhân, chị D và anh P có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng xuất phát từ việc anh P có hành vi hành hạ con riêng của chị D. Vì vậy việc chị D yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Về con chung chƣa có nên không giải quyết. Tài sản chung và nợ chung đƣơng sự không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Chị Võ Thị Mỹ D khởi kiện anh Nguyễn Xuân P yêu cầu đƣợc ly hôn, anh P có địa chỉ cƣ trú tại số 96/13 khu phố B, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nên đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣợc quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ D và anh Nguyễn Xuân P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 04 tháng 8 năm 2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 125 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Lời khai trong quá trình thu tập chứng cứ và tại phiên tòa, chị D cho rằng vợ chồng chung sống không có hạnh phúc ngay từ những ngày đầu hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn do anh P thƣờng xuyên sử dụng bạo lực với chị và con gái riêng của chị. Bản thân chị từng phải chứng kiến anh P nhiều lần đánh đập con gái riêng của chị gây thƣơng tích nhƣng không dám can ngăn hoặc báo cơ quan có thẩm quyền giải quyết vì tính anh P rất cộc cằn, nóng nảy, hay sử dụng bạo lực. Anh P hiện đang bị kết án về tội “Hành hạ con” với mức án ba năm tù. Lời khai của chị D phù hợp với kết quả xác minh mâu thuẫn vợ chồng tại Hội Liên hiệp phụ nữ phƣờng Dĩ An (Biên bản ngày 30/7/2018) xác định giữa chị D và anh P có phát sinh mâu thuẫn; anh P thƣờng xuyên có hành vi đánh đập, hành hạ con gái riêng của chị D.
Do đó, mặc dù chị D và anh P kết hôn và chung sống thời gian chƣa lâu nhƣng việc anh P thƣờng xuyên đánh đập, hành hạ cháu Lê Võ Phƣơng U là con riêng của chị D (mới 7 tuổi). Anh P cho rằng đây là việc anh dạy bảo con, nhƣng thực chất đây lại là hành vi bạo hành gia đình, vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án. Hiện nay, chị D cho rằng vì lý do này mà chị không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với anh P là có căn cứ. Nhâ ̣n thấy, mâu thuẫn vợ chồng giƣ̃a chi ̣ D và anh P đa thâ ̣̃
t sƣ̣ trầm tro ̣ng, đờ i sống chung không thể kéo dài , mục đích hôn nhân không đa ̣t đƣợc. Vì vậy, chị D yêu cầu ly hôn là phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chƣa có con chung nên Tòa án không giải quyết.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Trƣớc khi mở phiên tòa sơ thẩm, anh P không có yêu cầu giải quyết về vấn đề tài sản chung và nghĩa vụ chung. Tại phiên tòa, anh P có yêu cầu nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì phải giải quyết vấn đề tài sản chung, do đó không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Vì vậy, đƣơng sự có thể tự thỏa thuận về vấn đề tài sản chung và nghĩa vụ chung hoặc khởi kiện thành vụ án khác nếu có tranh chấp.
Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Mỹ D phải chịu án phí dân sƣ̣ sơ thẩm về ly hôn theo quy định của khoản 4 Điều 147 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sƣ̣.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ D đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Xuân P (Giấy chứng nhận kết hôn số 125 do Ủy ban nhân dân phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04 tháng 8 năm 2016).
2. Về con chung: Không có nên không giải quyết.
3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự tự thỏa thuận, nếu không thỏa thuận đƣợc thì có quyền khởi kiện thành vụ án khác.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ Thị Mỹ D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0019788 ngày 18/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
5. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Các đƣơng sự (2); - VKSND thị xã Dĩ An (1); - CC THADS thị xã Dĩ An (1); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (1); - UBND phƣờng B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (1); - Lƣu VT, hồ sơ vụ án (2); | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Thanh |