vanban.org

Bản án 96/2017/HSPT — Hình sự

TAND TP. Huế Tuyên án 18/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q; giữ nguyên

mức hình phạt, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q-Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q; giữ nguyên
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 96/2017/HSPT

Ngày: 18/08/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Với

thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Lộc. Các thẩm phán: Ông La Minh Tường và ông Tôn Anh Dũng. Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Khanh - Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2017/HSPT ngày 19/5/2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 04/2017/HSST ngày 13/4/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn Q, sinh ngày 20/8/1975, tại: Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn TD, xã PD, huyện PV, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hoá: 09/12; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Hoàng Thị G; có vợ và có 2 con. Bị cáo tại ngoại. Có mặt. * Người bào Chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q: Ông Nguyễn Văn Phước - Luật sư Văn phòng luật sư Huế, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế, địa chỉ: 31 Tố Hữu, phường Phú Hội, thành phố Huế. Có mặt. * Người làm chứng: Ông Lê G, sinh ngày 20/12/1995. Trú tại: Thôn 3, xã HD, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt. NHẬN THẤY Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 12/02/2016, Nguyễn Văn Q có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ (hạng B2) trực tiếp điều khiển xe ô tô hiệu INOVA loại 7 chỗ ngồi, BKS: 75A - 046.31 chạy trên Quốc lộ 49B theo hướng HP - HD. Khi đến Km 38 +300 Quốc Lộ 49B thuộc địa bàn xã HP, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế, Q điều

khiển xe chạy với tốc độ khoảng 55-60Km/h và quan sát thấy phía trước ngược chiều cách đầu xe của Q khoảng 20 mét có 01 xe mô tô BKS: 75F7 - 5179 do ông Tôn Thất C trực tiếp điều khiển đang chạy vượt lên bên trái xe mô tô BKS: 75K7- 4123 do anh Lê G điều khiển đang đi cùng chiều phía trước. Khi xe mô tô BKS 75F7 - 5179 của ông C vượt lên đã để xe va vào phía trước bên trái xe mô tô BKS: 75K7-4123 do anh Lê G điều khiển làm cho xe của anh G ngã xuống đường, còn xe của ông C chuyển hướng chạy sang trái nhưng chưa ngã. Thấy vậy, Q đánh tay lái sang phải để tránh nhưng do khoảng cách quá gần nên đã để phần bên trái đầu xe ô tô BKS:75A - 046.31 va chạm với xe mô tô BKS: 75F7 - 5179 do ông C điều khiển gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Ông Tôn Thất C bị thương nặng, chết trên đường đưa đi cấp cứu; Hai xe bị hư hỏng nhẹ. Vật chứng vụ án thu giữ gồm: - 01 xe mô tô mang biển số 75K7 – 4123; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang biển số 75K7 – 4123; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Lê G; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Lê G. - 01 xe mô tô mang biển số 75F7 - 5179. - 01 xe ô tô mang biển số 75A - 046.31; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang biển số 75A - 046.31; 01 giấy chứng nhận đăng kiểm xe ô tô mang biển số 75A - 046.31; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Nguyễn Văn Q. Ngày 11/3/2016, ngày 26/7/2016 và ngày 15/10/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Trà đã ra quyết định xử lý vật chứng: trả lại 01 xe mô tô mang biển số 75K7 – 4123; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang biển số 75K7 - 4123 cho chủ sở hữu là anh Lê Đ; trả lại 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Lê G, 01 giấy chứng minh thư nhân dân mang tên Lê G cho anh Lê G; trả lại 01 xe ô tô mang biển số 75A - 046.31; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang biển số 75A - 046.31 cho Nguyễn Văn Q; trả lại 01 xe mô tô BKS 75F7 - 5179 cho đại diện gia đình người bị hại là anh Tôn Thất T. Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn Q đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 82.500.000đồng, anh Lê G hỗ trợ cho gia đình người bị hại số tiền 30.000.000đồng. Đại diện gia đình người bị hại đã đồng ý nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm đồng thời có đơn xin bãi nại đối với hành vi của Nguyễn Văn Q. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2017/HSST ngày 13/4/2017, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà đã quyết định: - Áp dụng Khoản 1 Điều 202; Điểm b, p Khoản 1 và Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự; - Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 20/4/2017, bị cáo Nguyễn Văn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm về mức hình phạt, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, của bị cáo;

XÉT THẤY

Đã có cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 12/02/2016 Nguyễn Văn Q trực tiếp điều khiển xe ô tô nhãn hiệu INOVA loại 7 chỗ ngồi BKS 75A - 046.31 lưu thông trên đường Quốc Lộ 49B theo hướng HP - HD. Khi đến Km 38+300 Quốc lộ 49B ngay trên cầu Tam Giang, thuộc địa bàn xã HP, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế Q điều khiển xe chạy với tốc độ khoảng 55-60Km/h, chiếm sang phần đường bên trái khoảng 0,5 mét và quan sát thấy phía trước ngược chiều cách đầu xe của Q khoảng 20 mét có 01 xe mô tô BKS 75F7 - 5179 do ông Tôn Thất C trực tiếp điều khiển đang chạy vượt lên bên trái xe mô tô BKS 75K7-4123 do anh Lê G điều khiển đang đi cùng chiều phía trước. Khi xe mô tô BKS 75F7 - 5179 của ông C vượt lên đã để xe va vào phía trước bên trái xe mô tô BKS 75K7- 4123 do anh Lê G điều khiển làm cho xe của anh G ngã xuống đường, còn xe của ông C chuyển hướng chạy sang trái nhưng chưa ngã. Q đánh tay lái sang phải để tránh nhưng do khoảng cách quá gần nên đã để phần bên trái đầu xe ô tô BKS 75A - 046.31 va chạm với xe mô tô do ông C điều khiển gây tai nạn giao thông. Hậu quả: Ông Tôn Thất C bị thương nặng, chết trên đường đưa đi cấp cứu, hai xe bị hư hỏng nhẹ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết 01 người. Do vậy, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà kết tội bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ tai nạn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng làm 01 người chết và 01 xe mô tô bị hư hỏng. Lỗi chủ yếu thuộc về bị cáo do đã điều khiển xe lấn sang phần đường của xe ngược chiều. Vì vậy, cần xử lý thích đáng để giáo dục và phòng ngừa. Bản án sơ thẩm xử phạt bị Nguyễn Văn Q 09 tháng tù là đúng mức, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và hậu quả gây ra, đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tuy nhiên, trong vụ án này nguyên nhân gây ra tai nạn có phần do người bị hại điều khiển xe vượt xe phía trước đã để xe của mình va chạm với xe máy của anh Lê G làm xe máy của người bị hại bị chuyển hướng bất ngờ ra giữa lòng đường, góp phần gây ra tai nạn. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường đầy đủ các khoản chi phí cho người bị hại; đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nhân thân của bị cáo tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, cần chấp nhận đơn kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục, phòng ngừa. Đối với đề nghị của đại diện hợp pháp của bị hại và của luật sư bào Chữa, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng; Bị cáo Nguyễn Văn Q là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng do xem thường các quy định của Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông nên đã gây ra tai nạn, hậu quả làm chết một người, lỗi chủ yếu thuộc về bị cáo. Tình hình vi phạm các quy định của Luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông trên địa bàn không giảm. Do đó, cần xét xử nghiêm để có tác dụng giáo dục và phòng ngừa, không miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Vì các lẽ trên; Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 248; Điểm đ Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Q; giữ nguyên mức hình phạt, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Q. Áp dụng Khoản 1 Điều 202; Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã PD, huyện PV, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. 2. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn Q không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ