vanban.org

Bản án 96/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị V đƣợc ly hôn với anh Lê Văn C.

Về con chung: 1. Giao con chung tên Lê Văn Ph, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2012 cho chị Đặng Thị V trực tiếp nuôi dƣỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con V - C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị V đƣợc ly hôn với anh Lê Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 96/2017/HNGĐ-ST
Ngày 25-9-2017
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Hồng Gấm.

Ông Pha ̣m Chiến Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Dung- Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 545/2017/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 101/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2017/QĐST- HNGĐ ngày 08/9/2017, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đă ̣ng Thị V, sinh năm 1988; đi ̣a chi thƣở

̀ ng trú : Thôn N, xã Đ, huyê ̣n Y, tỉnh Bắc Giang; tạm trú: Số 59/5, khu phố TP2, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn C, sinh năm 1983; đi ̣a chi thƣở

̀ ng trú : Thôn N, xã Đ, huyê ̣n Y, tỉnh Bắc Giang; tạm trú: Số 59/5, khu phố TP2, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 7 năm 2017 và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Đặng Thị V trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh C có thời gian tìm hiểu nhau 01 năm thi đăng ký

̀ kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyê ̣n Y, tỉnh Bắc Giang năm 2011.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đinh chồng ta ̣i huyê ̣n Y ,

̀ tỉnh Bắc Giang, đến năm 2013 thì chuyển vào thuê trọ, sinh sống và làm ăn tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chị và anh C đều làm công nhân , thu nhâ ̣p 1 tháng của 02 vợ chồng khoảng 7 triê ̣u đồng, vợ chồng chung sống ha ̣nh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn , nguyên nhân là do anh C không lo làm ăn, mê chơi cờ ba ̣c nghi lả ̀m , tiền hai vợ chồ ng tich lũy để sinh con anh C cũng

́ mang đi chơi đề , khi chi ̣ góp ý thi mắng , chƣ̉ i thâ ̣m chi đánh đâ ̣p chi ̣. Vợ chồng

̀

́ chị đã có thời gian ly thân từ tháng 10 năm 2016. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Văn Ph, sinh ngày 01/02/2012, hiện cháu đang sống cùng chị. Sau ly hôn chị yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh C cấp dƣỡng nuôi con.

Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Lê Văn C: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào các ngày 28/7/2017, 18/8/2017; tham gia phiên tòa vào các ngày 08/9/2017 và ngày 25/9/2017 nhƣng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu của chị V và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị V và anh C do Tòa án tiến hành ngày 16/8/2017, chính quyền địa phƣơng cung cấp thông tin nhƣ sau: Anh C, chị V đăng ký KT3 tại địa phƣơng từ năm 2015. Hai vợ chồng cùng làm công nhân, thu nhâ ̣p ổn đi ̣nh, có 1 con chung. Tƣ̀ khi sinh sống ta ̣i đây , đi ̣a phƣơng chƣa nghe thông tin hay trinh báo gi về viê ̣c mâu thuẫn giƣ̃a hai vợ

̀

̀

chồng chi ̣ V, anh C. Hiê ̣n nay anh C, chị V vẫn đang cùng sinh sống ta ̣i đi ̣a chi ̉ trên.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đƣơng sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn và đƣợc nuôi con của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc công bố tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:

Chị Đặng Thị V có đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân, con chung giữa chị với anh Lê Văn C địa chỉ tạm trú tại số 59/5, khu phố TP2, phƣờng T, thị xã D , tỉnh Bình Dƣơn g. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã triệu tập và niêm yết hợp lệ đối với bị đơn anh Lê Văn C tham gia phiên tòa vào các ngày 08/9/2017 và ngày 25/9/2017, anh C vắng mặt không có lý do, chị Đặng Thị V có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 25/8/2017. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị V và anh C.

Về quan hệ hôn nhân : Chị Đă ̣ng Thị V và anh Lê Văn C là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 04 quyển số 01/2011 tại Ủ y ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang vào ngày 14/01/2011 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Trong cuô ̣c sống vợ chồng anh C không có sƣ̣ quan tâm, chia sẻ vớ i chi ̣ V về vấn đề tài chính, sinh hoa ̣t gia đinh , không tu chi làm ăn để vun vén xây dƣ̣ng hạnh phúc

̀

́

gia đinh mà anh C còn mắc tệ nạn xã hội đó là ham mê cờ bạc , lô đề khiến cho

̀ kinh tế gia đinh khó khăn, chị V khuyên nhủ, góp ý anh C không tiếp thu sƣ̉ a đổi

̀ mà còn đánh chị V. Vợ chồng chi ̣ đa sỗ ́ng ly thân tƣ̀ tháng 10 năm 2016 cho đến nay, chƣ́ ng tỏ mâu thuẫn đa trẫ ̀m tro ̣ng , mục đích của cuộc hôn nhân không đạt đƣợc, đờ i sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chi ̣ V là có căn cƣ́ chấp nhâ ̣n theo quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 1 Điều 56 Luâ ̣t Hôn nhân và Gia đinh

̀ năm 2014: “ Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoă ̣c vi pha ̣m nghiêm tro ̣ng quyền , nghĩa vụ của vợ , chồng… ”

Về con chung: Chị V, anh C có 01 con chung tên Lê Văn Ph, sinh ngày 01/02/2012. Chị V có nguyện vọng đƣợc nuôi con chung sau khi ly hôn, anh C không có ý kiến về viê ̣c nuôi con . Xét, cháu Ph hiện nay còn nhỏ cần sƣ̣ chăm sóc của chị V và chị V có công việc, thu nhập ổn định, anh C không có công viê ̣c ổn đi ̣nh la ̣i ham mê cờ ba ̣c, lô đề nên việc giao cháu Ph cho chị V trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc sau khi ly hôn là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh C cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sƣ̣ không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị V phải chịu án phí ly hôn theo quy đi ̣nh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 15, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị V đƣợc ly hôn với anh Lê Văn C.

2. Về con chung:

2.1. Giao con chung tên Lê Văn Ph, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2012 cho chị Đặng Thị V trực tiếp nuôi dƣỡng.

Sau khi ly hôn chị V và anh C đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Chị V phải tạo điều kiện cho anh C trong việc thăm nom, chăm sóc con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con.

2.2. Về cấp dƣỡng nuôi con : Anh Lê Văn C không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đƣơng sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đă ̣ng Thị V phải chịu 300.000 (ba trăm nghin) đồng án

̀ phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào tiề

n ta ̣m ƣ́ ng án phi đa nô ̣̃ p theo biên lai số

́ 0009809 ngày 11 tháng 7 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ