- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu N với ông Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 953/2019/HNGĐ-ST Ngày: 10/12/2019 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Khê
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Quý
2. Ông Hoàng Mạnh Cường
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân Quận T
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Ngọc Huệ – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 566/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2019 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm: 1990 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: 92 đường Đặng Nghiêm, Tổ 3, Khu phố 1, phường L, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: 92 đường Đặng Nghiêm, Tổ 3, Khu phố 1, phường L, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn H sống với nhau từ năm 2013 và đã được Ủy ban nhân dân phường L, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 88, quyển số 01/2013 ngày 26/7/2013
Sau ngày cưới, Bà và ông Hùng sống chung tại Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian chung sống, lúc đầu hạnh phúc về sau không hạnh phúc do tính tình hai vợ chồng trái ngược nhau, ông Nguyễn Văn H thường xuyên chửi bới, đánh đập Bà. Bà đã ly thân với ông Hùng từ tháng 10/2016 đến nay. Hiện nay, do tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà đã cố gắng hết sức nhưng không thể hàn gắn đoàn tụ được, Bà xin dứt khoát ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Lục P, sinh ngày 09/10/2015. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Lục P và yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con với mức 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng cho đến khi trẻ Nguyễn Lục P đủ 18 tuổi. Về tài sản chung: Không có; Nợ chung: Không có
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu N xin vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ, cấp, tống đạt văn bản tố tụng, thời hạn tố tụng. Về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn (số 88, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/7/2013). Nay bà Nguyễn Thị Thu N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn H; yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bà Nguyễn Thị Thu N và ông Nguyễn Văn H đều có quốc tịch Việt Nam. Kết quả xác minh tại Công an phường L, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xác định bị đơn là ông Nguyễn Văn H hiện đang thực tế cư trú tại địa chỉ 92 đường Đặng Nghiêm, Tổ 3, Khu phố 1, phường L, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận T theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Nội dung tranh chấp:
Nguyên đơn xác định Bà và ông Nguyễn Văn H không hạnh phúc do tính tình vợ chồng trái ngược nhau nên thường dẫn đến gây gổ, đánh đập nhau. Nay Bà yêu cầu Tòa án chấp nhận cho Bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Đồng thời yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là 01 con chung tên Nguyễn Lục P, sinh ngày 09/10/2015 và yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con với mức 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng đến khi trẻ Nguyễn Lục P đủ 18 tuổi.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ nhưng ông Nguyễn Văn H vắng mặt, không tham dự các buổi hòa giải, làm việc, công khai chứng cứ cũng như không tham dự phiên tòa.
Hội đồng xét xử nhận thấy giữa bà Nguyễn Thị Thu N và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường L, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 88, quyển số 01/2013 ngày 26/7/2013 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Giữa bà Nguyễn Thị Thu N và ông Nguyễn Văn H trên thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Bà Nguyễn Thị Thu N và ông Nguyễn Văn H do tính cách không hợp nhau dẫn tới thường xuyên cãi vả, gây gổ làm cho cuộc sống hôn nhân mất hạnh phúc nên đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Bị đơn, ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham dự các buổi hòa giải, làm việc cũng như dự phiên tòa hôm nay nhưng ông Nguyễn Văn H không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân với bà Nguyễn Thị Thu N. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thu N và ông Nguyễn Văn H đã rạn nứt không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn.
- Về con chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N có 01 con chung tên Nguyễn Lục P, sinh ngày 09/10/2015. Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Lục P và yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng đến khi trẻ Nguyễn Lục P đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử nhận thấy từ khi bà Nguyễn Thị Thu N và ông Nguyễn Văn H xảy ra mâu thuẫn đến nay thì trẻ Nguyễn Lục P do bà Nguyễn Thị Thu N trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải thay đổi môi trường sống hiện tại của trẻ Nguyễn Lục P nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao con chung tên Nguyễn Lục P, sinh ngày 09/10/2015 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử nhận thấy mức cấp dưỡng 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng đến khi trẻ Nguyễn Lục P đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với thu nhập trung bình tại địa phương và đủ đảm bảo cho việc chăm sóc và phát triển của trẻ Nguyễn Lục P nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không có; bị đơn không có yêu cầu phản tố về phần tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí hôn nhân gia đình, bị đơn chịu án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 do Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thu N với ông Nguyễn Văn H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 88, quyển số 01/2013 ngày 26/7/2013 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu N không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: giao 01 con chung tên Nguyễn Lục P, sinh ngày 09/10/2015 cho bà Nguyễn Thị Thu N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con với mức 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng đến khi trẻ Nguyễn Lục P đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom, chăm sóc con chung để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Trường hợp ông Nguyễn Văn H chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền cấp dưỡng thì ông Nguyễn Văn H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu N chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Thu N đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0026055 ngày 11/7/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận T. Bà Nguyễn Thị Thu N đã nộp đủ án phí.
Án phí cấp dưỡng: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Văn H chịu. Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSNDQ9; - THADSQ9 - Đương sự - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Khê |