- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Quốc M - Nguyễn Phan Kiều O"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Quốc M.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 951/2017/HNGĐ-PT Ngày: 11 - 10 - 2017 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Loan
Các Thẩm phán:
Bà Võ Thị Mỹ Hạnh
Bà Phạm Thị Thu Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Lê Ninh – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 11/10/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 82/2017/TLPT-HNGĐ ngày 28/8/2017 về tranh chấp ly hôn.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 804/2017/HNGĐ-ST ngày 17/7/2017 của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 762/2017/QĐ-PT ngày 06/9/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 78/2017/QĐ-PT ngày 22/9/2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Quốc M, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Phan Kiều O, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Ông Trần Quốc M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thể hiện nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/12/2016 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Quốc M trình bày:
Ông và bà Nguyễn Phan Kiều O tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 01, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh vào sổ đăng ký số 04, quyển số 01 ngày 08/02/2010.
Do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn. Nay tình cảm không còn, khả năng đoàn tụ không có nên ông M yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà O.
Về con chung: Ông M và bà O có 01 con chung tên Trần Minh L, sinh ngày 27/12/2012, hiện đang chung sống cùng ông M. Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển tốt nhất cho con, ông M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con và không yêu cầu bà O cấp dưỡng phí tổn nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Quốc M xác định không có tài sản chung và nợ chung.
Bị đơn bà Nguyễn Phan Kiều O trình bày:
Bà O xác nhận lời trình bày của ông M về quan hệ hôn nhân và về con chung là đúng. Tuy nhiên, về mâu thuẫn gia đình bà O cho rằng nguyên nhân chính là do ông M thiếu tôn trọng vợ, không quan tâm chia sẻ các vấn đề trong đời sống vợ chồng. Ngoài ra, mâu thuẫn còn do bất đồng với mẹ chồng nên bà phải chuyển ra ngoài ở, vợ chồng đã sống ly thân. Thời gian qua, mặc dù đã tìm mọi biện pháp để giải quyết mâu thuẫn nhưng đều không có kết quả, bà O cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng thật sự đã trầm trọng nên bà cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Bà O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Minh L, sinh ngày 27/12/2012, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 804/2017/HNGĐ-ST ngày 17/7/2017 của Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Trần Quốc M và bà Nguyễn Phan Kiều O.
2. Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Minh L, sinh ngày 27/12/2012 giao cho bà Nguyễn Phan Kiều O trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông M đến khi có yêu cầu.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ: Không có nên không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 27/7/2017, ông Trần Quốc M có đơn kháng cáo tranh chấp quyền được nuôi con.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông M không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo.
Ông M và bà O thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết vụ án như sau: Ông M sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là trẻ Trần Minh L. Riêng hai ngày cuối tuần là thứ bảy, chủ nhật trẻ L sẽ giao cho bà O chăm sóc. Ông M đủ điều kiện về kinh tế nên không yêu cầu bà O cấp dưỡng phí tổn nuôi con.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Tòa cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự cũng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Ông M và bà O thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết vụ án là giao trẻ Trần Minh L cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng, bà O sẽ chăm con vào hai ngày cuối tuần. Việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện và không trái pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ông Trần Quốc M và bà Nguyễn Phan Kiều O chung sống có 01 con chung là Trần Minh L, sinh ngày 27/12/2012. Hiện tại, trẻ L đang do ông M nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông M và bà O đều có nguyện vọng được nuôi con. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông M và bà O thỏa thuận giao trẻ L cho ông M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, riêng hai ngày cuối tuần là thứ bảy và chủ nhật sẽ giao cho bà O chăm sóc. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên phát sinh hiệu lực.
Do ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa nên ông M phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 148, Điều 300, Khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Quốc M.
Tuyên xử: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Trần Quốc M và bà Nguyễn Phan Kiều O.
2. Về con chung: Giao trẻ Trần Minh L, sinh ngày 27/12/2012 cho ông Trần Quốc M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Riêng hai ngày cuối tuần là thứ bảy và chủ nhật trẻ M sẽ giao cho bà Nguyễn Phan Kiều O chăm sóc, dạy dỗ.
Bà O, ông M có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của trẻ, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ: Không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Quốc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông M đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số AA/2016/0026968 ngày 14/3/2017 Chi cục thi hành án dân sự Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà ông M đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số AA/2017/0013141 ngày 31/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông M đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Chi cục THADS Quận T; - TAND Quận T; - UBND Phường X, Quận Y, TP.HCM; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HS, VT (T/18). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Loan |