- Tranh chấp gì? án hình sự — "BI CAO BUI PHUOC T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Hủy quyết định của bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án về hình sự đối với bị cáo Bùi Phước T tại Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2025/HS-PT Ngày: 15-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thúy.
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Tuyết Linh;
Ông Trần Văn Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 24/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Phước T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 83/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Bùi Phước T, sinh ngày 01 tháng 7 năm 1977 tại tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Ơ (đã chết) và bà Phan Thị B (đã chết); Vợ, con: vợ là Nguyễn Thị Mộng T1, có 04 con, người lớn nhất sinh năm 2000, người nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (đã chết ngày 10/4/2025).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại Nguyễn Minh T2 và 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo; bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn trong việc vay mượn tiền nên vào khoảng 15 giờ ngày 14/5/2024, ông Nguyễn Minh T2 và vợ là bà Đoàn Thị L cùng con là Hà Nhất X đi đến nhà ông Bùi Phước T nói chuyện nhưng ông T đã uống rượu say và đang ngủ. Lúc này, có con ông T là Bùi Thanh Đ đi ra nói chuyện thì xảy ra cự cải, đánh nhau, ông T nghe được sự việc thức dậy thấy Đ bị đánh chảy máu, nên ông T vào nhà lấy 01 (một) cái búa chém vào tay phải ông T2 gây thương tích và bị rớt cái búa xuống sân nhà, lúc này ông T2 dùng cây định đánh lại ông T nhưng bị can ngăn. Tiếp theo, ông T chạy vào nhà mình lấy 01 (một) cái kéo rồi quay trở ra đâm vào lưng ông T2 01 (một) cái làm ông T2 bị thương. Trong lúc xô xát đánh nhau, Hà Nhất X có dùng cục bê tông dưới nền nhà đánh vào đầu con ruột ông T là Bùi Thanh Đ bị thương tích ở đầu. Sau đó, ông Nguyễn Minh T2, anh Bùi Thanh Đ trình báo Cơ quan Công an.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) cái kéo bằng kim loại, từ mũi kéo đến phần cán cầm dài 23cm, lưỡi kéo bằng kim loại mũi nhọn, trên thân lưỡi kéo có chữ “ĐỀ ĐẶC BIỆT”; 01 (một) cái búa bằng kim loại (loại búa chẻ củi), phần lưỡi búa một đầu bằng, một đầu dẹp sắc, trên bề mặt lưỡi búa có ký hiệu “99999”, phần cán búa bằng kim loại hình trụ tròn dài 36 cm; 01 (một) cái búa bằng kim loại (loại búa đóng đinh), tổng chiều dài cán và đầu búa là 33 cm, cán và đầu búa là sắt nguyên khối;
Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 204-2024/KLTTCT-TTPY của Trung tâm Pháp y tỉnh T thì thương tích của ông Nguyễn Minh T2 như sau:
* Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Minh T2 là 16% (mười sáu phần trăm).
* Kết luận khác: Xác định vật gây thương tích: Thương tích Nguyễn Minh T2 do vật sắc gây nên. Phân tích tỷ lệ phần trăm từng vết thương: Sẹo vết thương vùng lưng trái hình chữ V. Tỷ lệ: 02% (hai phần trăm); Sẹo vết thương giữa sau cẳng tay phải. Tỷ lệ: 01% (một phần trăm); Gãy 1/3 giữa thân xương trụ tay phải, không liền xương khớp giả chặt. Tỷ lệ: 13% (mười ba phần trăm);
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 83/2024/HS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Phước T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Bùi Phước T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự vật chứng của vụ án, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/12/2024, bị cáo Bùi Phước T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập có đủ căn cứ kết luận, bản án sơ thẩm số 83/2024/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử bị cáo Bùi Phước T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Tuy nhiên, sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trước khi Hội đồng xét xử mở phiên tòa bị cáo Bùi Phước T vì lý do sức khỏe không đến Tòa được và bị cáo Bùi Phước T chết ngày 10/4/2025. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Theo bản Trích lục khai tử (bản sao) số 373/2025/TLKT-BS ngày 10/4/2025 của Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang thì bị cáo Bùi Phước T đã chết vào lúc 03 giờ 05 phút, ngày 10/4/2025. Do đó, căn cứ Điều 351, 352 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung vụ án: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Do mâu thuẫn trong việc đòi tiền nợ vào khoảng 15 giờ ngày 14/5/2024 nên bị cáo Bùi Phước T đã dùng búa và kéo đâm, chém vào tay và hong của bị hại Nguyễn Minh T2 với tỉ lệ thương tích là 16%. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Phước T về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, 05/12/2024, bị cáo Bùi Phước T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, theo bản Trích lục khai tử (bản sao) số 373/2025/TLKT-BS ngày 10/4/2025 của Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang thì bị cáo Bùi Phước T đã chết vào lúc 03 giờ 05 phút, ngày 10/4/2025. Do đó, quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, nên chấp nhận.
Đối với phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 359; Khoản 7 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm b.2 phần II Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25 tháng 12 năm 2000 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
1. Hủy quyết định của bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án về hình sự đối với bị cáo Bùi Phước T tại Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái kéo bằng kim loại, từ mũi kéo đến phần cán cầm dài 23cm, lưỡi kéo bằng kim loại mũi nhọn, trên thân lưỡi kéo có chữ “ĐỀ ĐẶC BIỆT”; 01 (một) cái búa bằng kim loại (loại búa chẻ củi), phần lưỡi búa một đầu bằng, một đầu dẹp sắc, trên bề mặt lưỡi búa có ký hiệu “99999”, phần cán búa bằng kim loại hình trụ tròn dài 36 cm; 01 (một) cái búa bằng kim loại (loại búa đóng đinh), tổng chiều dài cán và đầu búa là 33 cm, cán và đầu búa là sắt nguyên khối.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang).
3. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Bị cáo Bùi Phước T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trương Thị Tuyết L1- Trần Văn Đạt Võ Thị Thu T3
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND tỉnh Tiền Giang;
- Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
- Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang;
- Trại tạm giam CA tỉnh Tiền Giang;
- TAND huyện Gò Công Đông;
- VKSND huyện Gò Công Đông;
- THADS huyện Gò Công Đông;
Võ Thị Thu Thúy
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Võ Thị Thu T3
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Sở tư pháp tỉnh Tiền Giang; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Tiền Giang; - Trại tạm giam CATG; - Phòng KTNV và THA (TAT); - TAND huyện Gò Công Đông; - VKSND huyện Gò Công Đông; - Công an huyện Gò Công Đông; - THADS huyện Gò Công Đông; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trương Văn Sang – Hoàng Thị Thơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Thị Thu Thúy THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Ngọc Tuyền |