vanban.org

Bản án 95/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài P và Nguyễn Văn C phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/HS-ST
Ngày: 16-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Phước Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Minh Tùng;

2. Bà Nguyễn Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2025/QĐXXST-HS ngày 06/5/2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hoài P, sinh năm 1998, tại tỉnh B; hộ khẩu thường trú: Số 221, tổ 10, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh B; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N4 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T4; có 01 con sinh năm 2022; tiền án: Không, tiền sự: Không. Ngày 14/5/2024, bị cáo Nguyễn Hoài P bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; bị cáo có mặt.

2. Nguyễn Văn C, sinh năm 1977, tại tỉnh B; hộ khẩu thường trú: Tổ 10, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh B; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Võ Thị N5; vợ là Lê Thị Hồng D; có 02 con lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2011; tiền án: Không, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 17/5/2006, Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát ra Quyết định số 298/QĐ-UBND về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời hạn 24 tháng đối với Nguyễn Văn C về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. C chấp hành xong thời hạn ngày 07/4/2009.

Ngày 22/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn C bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. Bị cáo có mặt.

- Bị hại:

1. Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1978, thường trú: Xóm Q, xã P, huyện Đ, tỉnh T. Địa chỉ liên hệ: Đường TC3, phường M, thành phố B, tỉnh B. Xin vắng mặt.

2. Ông Võ Vũ L, sinh năm 1992, thường trú: Ấp K, xã Khánh B, huyện T, tỉnh C. Địa chỉ liên hệ: Khu phố 3B, phường T, thành phố B, tỉnh B. Xin vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Võ Chí L2 (vắng mặt).

2. Bà Võ Cẩm L3 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C là Giám đốc của Công ty TNHH MTV D, địa chỉ: số 231, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh B, công ty chuyên sản xuất nước đóng chai. Nguyễn Hoài P là cháu ruột gọi C bằng cậu và là người quản lý phân phối nước đóng chai của công ty. Võ Vũ L, Võ Cẩm L3 và Võ Chí L2 là 03 chị em. Hoàng Văn Đ là dượng rể của 03 chị em. Vũ L là chủ Cơ sở phân phối nước đóng chai Đ, địa chỉ: Đường DL16, khu phố 3B, phường T, thành phố B, tỉnh B, L3, Chí L1 và Đ cùng làm nhân viên của Cơ sở Đ P.

Khoảng cuối tháng 12/2023, Võ Vũ L và P xảy ra mâu thuẫn về việc phân phối nước đóng chai (loại 20 lít), P cho rằng Võ Vũ L giao nước đóng chai rẻ, phá giá, giành khách mua nước ở địa bàn xã A, xã A (nay là phường A và phường A) với P. Khoảng 10 giờ ngày 02/01/2024, Vũ L đang giao nước ở quán tạp hóa gần Ngã tư Thùng Thơ thuộc xã Phú An, thành phố Bến Cát thì P đi ngang qua nhìn thấy nên đi lại nói chuyện, yêu cầu Vũ L không được giao nước ở đây, Vũ L không đồng ý cho rằng mình muốn bán giá bao nhiêu thì bán nên cả hai tiếp tục xảy ra mâu thuẫn dùng tay xô đẩy nhau nhưng được mọi người can ngăn nên P bỏ đi. Lúc này, Vũ Lgọi điện thoại cho L3 kể lại sự việc mâu thuẫn với P. Nghe vậy, L3 gọi điện thoại cho Chí L1 kể lại sự việc và rủ Chí L1 cùng nhau đi tìm gặp hỏi lý do vì sao P đánh Vũ L. Lúc này, Chí L1 đang đi làm cùng Đ nên Chí L1 rủ Đ đi cùng. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Chí L1 điều khiển xe môtô nhân hiệu Exciter, biển số 69N1-473.98 chở Đ, L3 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Vision, biển số 69N1-543.21 đến gần ngã tư Thùng Thơ thì gặp Vũ L đang điều khiển xe ô tô tải biển số 69C-069.16.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, tất cả 04 người cùng đi về hướng xã An Đ để tìm Công ty Diễm Phúc thì gặp P điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-402.43 đi trên đường nên nhóm của Vũ L chạy theo sau xe của P. Thấy nhóm của Vũ L chạy phía sau nên P điều khiển xe chạy vào đường An Đ 095 thuộc ấp An Sơn, xã An Đ, thị xã Bến Cát khoảng 01km thì đến khu vực ngã ba trước cổng Nhà vườn Vũ Gia thì P dừng xe tải lại nên nhóm của Vũ L cũng dừng xe lại. Lúc này, C cùng khoảng 05 người đàn ông (không rõ lai lịch) cầm cây gỗ, cây sắt đứng đợi sẵn ở đây. C hỏi “mấy thằng này hả”, P nói “ờ”, rồi P, C cùng nhóm người xông vào dùng tay chân, cây gỗ, cây sắt đánh nhau với nhóm của Vũ L. L3 bị C cầm cây gỗ đánh trúng đầu nhưng do L3 đội mũ bảo hiểm nên không bị thương tích. P và Vũ Lđánh nhau bằng tay, vật nhau ngã xuống đường thì có 01 người khác cầm cây đánh trúng lưng và đầu của Vũ L gây chảy máu. Chí L1 và Đ đánh nhau với những người đàn ông còn lại có cầm cây sắt, cây gỗ, sau đó Chí L1 bị té ngã ngửa xuống đường thì bị C cầm đá đánh nhiều cái vào 02 đầu gối của Chí L1. Sau đó, C chỉ tay về hướng Đ nói “thằng này láo lắm” thì Đ liền bỏ chạy, C cùng khoảng 03 người cầm cây đuổi theo khoảng 300 mét thì đuổi kịp nên cùng nhau đánh Đ té xuống đường bất tỉnh (Đ không rõ ai là người trực tiếp đánh Đ bất tỉnh). Sau đó, nhóm C quay lại nói với nhóm Vũ L“tao đánh thằng kia nằm chèm bẹp ở ngoài rồi, xem mà đưa nó đi bệnh viện đi”, rồi nhóm này bỏ đi, còn nhóm Vũ L đưa Đ đi bệnh viện cấp cứu. Ngày 03/01/2024, Võ Vũ L, Võ Chí L1, Võ Cẩm L3 và Hoàng Văn Đ đến Công an xã (nay là phường) An Đ trình báo.

Vật chứng thu giữ: 01 cây gỗ dài 01 mét, đã gãy thành 02 khúc; 01 cây gỗ loại cây tầm vong dài 1,2 mét, đã gãy thành 02 khúc; 01 cây gỗ đã mục dài 1,2 mét, đã gãy thành 04 khúc; 02 cục đá loại đá 4x6; 01 USB bên trong lưu giữ 11 đoạn video ghi lại hình ảnh nhóm Võ Vũ L chạy theo sau xe tải của Nguyễn Hoài P trên đoạn đường An Đ 095.

Theo các Kết luận giám định số 70 ngày 24/01/2024; số 76 ngày 25/01/2024 và số 547 ngày 09/9/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Bình Dương, kết luận:

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Vũ L là 01%.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Chí L2 là 00%.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoài P là 00%.

Theo Kết luận giám định số 101 ngày 21/02/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Bình Dương, kết luận về thương tích của Hoàng Văn Đ:

- Chấn thương đầu, dập xuất huyết não vùng trán 2 bên, đã điều trị nội khoa. Hiện tại còn hình ảnh tổn thương não vùng trán trái trên CT scanner.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 12%.

- Chấn thương đầu, dập xuất huyết não vùng trán 2 bên: Chấn thương kín không có vết thương ngoài da, khả năng do vật tày gây ra.

Ngày 11/3/2024, Hoàng Văn Đ yêu cầu giám định lại thương tích vì hiện tại Đ bị di chứng do vết thương để lại, bị rối loạn khứu giác, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát tiến hành trưng cầu giám định bổ sung. Theo Kết luận giám định số 267/2024/KLGĐ-TTPY ngày 13/9/2024 của Phân viện Pháp y tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

- Sưng bầm vùng trán, bầm mắt phải, bầm sưng đau cẳng tay trái, sây sát da tay, chân hiện không còn dấu vết. Tổn thương dập não, xuất huyết não vùng trán hiện còn di chứng tổn thương não thùy trán trái kích thước 12,4 x 28,7 mm.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Văn Đ thời điểm giám định là 28%.

- Tổn thương sưng bầm vùng trán; bầm hai mắt; tổn thương dập não, xuất huyết não vùng trán hiện còn di chứng tổn thương não thùy trán trái, bầm sưng đau cẳng tay trái, sây sát da tay, chân hiện không còn dấu vết do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

* Về trách nhiệm dân sự:

Nguyễn Hoài P và Nguyễn Văn C đã bồi thường chi phí điều trị thương tích với tổng số tiền 400.000.000 đồng cho Hoàng Văn Đ. Đ không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo P, C.

Đối với Võ Chí L1, Võ Vũ L và Võ Cẩm L3: Đều không có yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 129/CT-VKSBC ngày 05/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Hoài P và Nguyễn Văn C về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên Đại diệnVKSND thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hoài P và Nguyễn Văn C về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo P và bị cáo C.

Đề nghị xử phạt mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù đối với các bị cáo, nhưng cho hưởng án treo và đề nghị ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu, nên không đề nghị xem xét.

Về xử lý vật chứng: C tịch thu tiêu hủy đối với các công cụ liên quan đến việc phạm tội gồm:

- 01 cây gỗ dài 01 mét, đã gãy thành 02 khúc;

- 01 cây gỗ loại cây tầm vong dài 1,2 mét, đã gãy thành 02 khúc;

- 01 cây gỗ đã mục dài 1,2 mét, đã gãy thành 04 khúc;

- 02 cục đá loại đá 4x6;

Các bị cáo tranh luận: Bị cáo C và bị cáo P thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả và thừa nhận hành vi của mình như lời luận tội của Đại diệnViện Kiểm sát. Bị cáo C và bị cáo P không tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo C và bị cáo P đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên Công an thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Bị cáo, bị hại đồng ý với kết luận Giám định pháp y về thương tích đối với bị hại. Do đó, các hành vi, quyết định Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo C và bị cáo P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả. Lời khai của bị cáo C và bị cáo P phù hợp với lời khai của các bị cáo, các bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 12 giờ ngày 01/02/2024, tại ngã ba đường trước cổng Nhà vườn Vũ Gia, cạnh đường An Đ 095, ấp (nay là khu phố) An Sơn, xã (nay là phường) An Đ, thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương, do có mâu thuẫn trong việc kinh doanh nước đóng chai, Nguyễn Hoài P và Nguyễn Văn C cùng 01 nhóm người không rõ lai lịch đã có hành vi cùng nhau sử dụng tay, chân, cây gỗ, cây sắt, cục đá tham gia đánh Võ Vũ L, Võ Chí L1, Võ Cẩm L3 và Hoàng Văn Đ, gây ra thương tích cho Võ Vũ L 01% và Hoàng Văn Đ 28%, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Chí L2là 0%, Võ Cẩm L3 không bị thương tích.

Xét các bị cáo C và P đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Do đó, bản Cáo trạng số 129/CT-VKSBC ngày 05/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C và Nguyễn Hoài P về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại Hoàng Văn Đ và Võ Vũ L của các bị cáo C và P đã xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Về nhận thức các bị cáo C và P biết hành vi cố ý gây thương tích là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện.

Vai trò các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo P thực hiện hành vi tích cực hơn bị cáo C. Do vậy, HĐXX căn cứ tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt gồm:

Tại phiên tòa, bị cáo C và P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngoài ra, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo P và C đều là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của UBND phường An Đ). Bị cáo C được tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong P trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ Quốc và có ông nội (tên Võ Văn K) là Liệt sĩ. Bị cáo P có ông cố (tên Võ Văn K) là liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và là trụ cột lao động chính. Xét thấy, không C phải bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo được hưởng án treo để tự cải tạo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo.

. Về xử lý vật chứng: C tịch thu tiêu hủy đối với các công cụ liên quan đến hành vi phạm tội gồm:

- 01 cây gỗ dài 01 mét, đã gãy thành 02 khúc;

- 01 cây gỗ loại cây tầm vong dài 1,2 mét, đã gãy thành 02 khúc;

- 01 cây gỗ đã mục dài 1,2 mét, đã gãy thành 04 khúc;

- 02 cục đá loại đá 4x6;

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét.

. Về hành vi cố ý gây thương tích của những người không rõ lai lịch: Đề nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau.

. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Căn cứ Điều 46; Điều 47 và Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài P và Nguyễn Văn C phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài P 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/5/2025).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/5/2025).

Giao các bị cáo Nguyễn Hoài P và Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo Nguyễn Hoài P và Nguyễn Văn C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

2.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy đối với các công cụ liên quan đến hành vi phạm tội gồm:

- 01 cây gỗ dài 01 mét, đã gãy thành 02 khúc;

- 01 cây gỗ loại cây tầm vong dài 1,2 mét, đã gãy thành 02 khúc;

- 01 cây gỗ đã mục dài 1,2 mét, đã gãy thành 04 khúc;

- 02 cục đá loại đá 4x6;

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 15/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương và Chi cục THADS thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do bị hại không yêu cầu.

4. Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 83/2025/LCĐKNCT và 84/2025/LCĐKNCT cùng ngày 11/5/2025 đối với các bị cáo Nguyễn Hoài P và Nguyễn Văn C.

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài P và Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

6. Về quyền kháng cáo:

- Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/5/2025).

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ