vanban.org

Bản án 95/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 19/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn S phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn S 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày: 13/6/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn S - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn S phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/HS-ST
Ngày: 19 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Bách.

Thẩm phán:

Bà Bùi Thị Bích Liễu;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thiện Đạo;

Bà Ngô Mỵ Châu;

Ông Võ Bình Tân.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Kiều Ti Vi - Kiểm sát viên. Ngày 19 - 9 - 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2025/TLST-HS ngày 22/7/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HS ngày 26/8/2025, đối với bị cáo: NGUYỄN S, sinh năm: 1987 tại tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Nay là: Thôn P, xã D, tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú hiện nay: Thôn H, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Nay là: Thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn C và bà Nguyễn Thị Thu C1; Vợ (sống chung như vợ chồng): Nguyễn Thị Tuyết L và 3 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Tạm giữ: Không, Tạm giam: 13/6/2025. Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Trần Thị Thu P, thuộc Văn phòng L4, Đoàn luật sư tỉnh K. Địa chỉ: Khu phố B, xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi trước Luận cứ bào chữa.

- Bị hại: ông Hồ Văn C2, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Bà Võ Thị Kim L1, sinh năm: 1978 Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa; Có mặt tại phiên tòa.

2. Bà Huỳnh Thị Bích P1, sinh năm: 1984 Nơi thường trú: Tổ dân phố G, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố C, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa; Có mặt tại phiên tòa.

3. Bà Võ Thị Kim L2, sinh năm: 1975 Nơi thường trú: Tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa. Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã P, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt tại phiên tòa.

4. Bà Hồ Thị Thu T, sinh năm: 1995 Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa; Có mặt tại phiên tòa.

5. Bà Hồ Thị Thu T1, sinh năm: 1988 Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/11/2024, Nguyễn S và chị Võ Thị Kim L1 (đang sống chung như vợ chồng) đến nhà chị ruột của L1 là Võ Thị Kim L2 (cách nhà khoảng 50m) để nhậu.

Tại đây, S gặp hai người bạn của L2 là Hồ Văn C2 và Huỳnh Thị Bích P1 (bạn gái của C2), 04 người uống rượu với nhau, riêng chị L1 không uống chỉ ngồi chơi. Khi nhậu đến khoảng 22 giờ 30 phút, giữa S và P1 xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau nên S bỏ về nhà, P1 bực tức vì cho rằng S chửi, xúc phạm mình nên đi theo S ra đường đất khu vực phía trước nhà L2 đứng chửi S và gọi S ra nói chuyện, C2 cũng đi theo sau P1. Thấy vậy, L1 đi theo can ngăn C2 và P1 để bỏ qua xích mích. Vì thấy P1 và C2 chửi nên S ra phía sau nhà lấy một con dao cán bằng nhựa màu đen dài khoảng 17cm ra khu vực đường đất cách nhà chị L2 khoảng 15m. Tại đây giữa S và C2 xảy ra xô sát, S dùng dao mang theo đâm, chém loạn xạ nhiều nhát vào người anh C2, trong đó có 01 nhát trúng vào ngực trái làm anh C2 bị thương mất máu nên nằm bất tỉnh tại hiện trường, P1 thấy C2 bị thương chảy máu nên la lên, còn L1 chạy vào nhà gọi L2 ra cùng mọi người đưa anh C2 đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N đến ngày 14/11/2024 thì xuất viện.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội S vứt bỏ con dao và bỏ trốn. Đến ngày 19/11/2024, S đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại giấy chứng nhận thương tích số: 24, ngày 10/12/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh N xác định: “Tràn máu màng phổi trái, vết thương thấu ngực trái, đa vết thương phần mềm’’

Tại bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 05/KLTTCT-TTGĐYK-PY, ngày 18/12/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận:

- Vết thương ngang ngực trái tương ứng khoang liên sườn II, III sẹo liền tốt kích thước (3,5 x 0,3)cm (02%).

- Vết mổ dẫn lưu tràn dịch màng phổi trái đường nách giữa bên trái tương ứng khoang liên sườn V sẹo liền tốt, kích thước (2,5x0.5)cm (01%)

- Vết thương ngang kẻ ngón I, II mu bàn bàn tay trái sẹo liền tốt kích thước (01 x 0,1)cm (01%)

- Vết thương mặt ngoài cổ tay phải sẹo liền tốt kích thước (3,2x0,3)cm (02%)

- Vết thương dọc gò má phải sẹo liền tốt kích thước (3,2 x 0,1)cm (03%).

- Vết thương dọc góc hàm trái sẹo liền tốt kích thước (02 x 0,2)cm (03%)

- Vùng lưng có 04 vết thương sẹo liền tốt kích thước (2,2 x 0,5)cm (01%); (1,7 x 0,4)cm (01%); (2,5 x 0,3)cm (01%); (1,3 x 0,3)cm (01%)

- Tràn dịch màng phổi trái lượng nhiều đã phẫu thuật (03%).

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Hồ Văn C2 là 17% (Mười bảy phần trăm).

Cơ chế hình thành vết thương là do vật sắc gây nên.

Nhận định: các vết thương trên nếu không cấp cứu kịp thời sẽ gây ảnh hưởng đến tính mạng.

Về vật chứng: 01 con dao có cán bằng nhựa màu đen dài khoảng 17cm. Sau khi gây án, S đã vứt bỏ, cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.

Về phần dân sự: Bị hại Hồ Văn C2 yêu cầu Nguyễn S bồi thường số tiền 20.000.000đ chi phí điều trị và tổn thất kinh tế trong thời gian không đi làm. Nguyễn S đã bồi thường cho anh C2 được 2.000.000đ. Số tiền còn lại S đồng ý sẽ bồi thường.

* Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSKH-P1 ngày 18/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn S về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn S thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống nội dung của cáo trạng; Bị hại xác định nội dung vụ án giống như cáo trạng đã nêu, Không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền còn lại 18 triệu đồng, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố đối với bị cáo Nguyễn S là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú” quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn S phạm tội “Giết người”. Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 57 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn S từ 7 – 9 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do bị hại không yêu cầu.

- Luật sư Lê Trần Thị Thu P bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến (theo Luận cứ bào chữa): Không đồng ý với quan điểm truy tố mà đại diện VKS đưa ra. Cơ quan điều tra khởi tố, VKS truy tố S về tội: "Giết người" vì áp dụng án lệ số: 47/2021/AL. Tình huống của án lệ 47 là bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể con người. Bị hại không chết là nằm ngoài ý chí chủ quan của bị cáo. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào bị cáo có hành vi dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại cũng áp dụng Án lệ số 47/2021/AL, mà chỉ xem xét áp dụng án lệ này trong trường hợp hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố nêu trên để xác định bị cáo phạm tội "Giết người" thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Chưa đủ căn cứ để truy tố bị cáo Nguyễn S phạm tội: "Giết người". Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

- Bị cáo không có ý kiến bào chữa bổ sung, không đồng ý trả hồ sơ điều tra bổ sung gì khác.

- Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về thủ tục tố tụng: Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt Luật sư Lê Trần Thị Thu P bào chữa cho bị cáo, luật sư P có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi Luận cứ bảo vệ; Bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa và người làm chứng Võ Thị Kim L2 vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy: Sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 77, 291, 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự. [3] Qua thẩm vấn công khai tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo được đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu thu thập tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa nhận thấy là phù hợp, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 06/11/2024, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc ăn nhậu, Nguyễn S đã sử dụng dao có cán bằng nhựa dài khoảng 17cm, lưỡi dao bằng kim loại có mũi nhọn sắc bén đâm, chém liên tiếp nhiều nhát vào vùng ngực trái, lưng và mắt, gây ra 09 vết thương trên cơ thể anh Hồ Văn C2, làm tràn dịch màng phổi trái lượng nhiều đã phẫu thuật với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%.

Thấy rằng: chỉ vì xích mích trong lúc ăn nhậu, bị cáo đã dùng dao có cán bằng nhựa dài khoảng 17cm, lưỡi dao bằng kim loại có mũi nhọn sắc bén là hung khí nguy hiểm, đâm chém liên tiếp nhiều nhát vào vùng ngực trái, lưng và mắt là vùng trọng yếu trên cơ thể anh Hồ Văn C2, gây ra 09 vết thương trên cơ thể, làm tràn dịch màng phổi trái lượng nhiều. Hành vi của bị cáo Nguyễn S gây thương tích cho anh Hồ Văn C2 mang tính quyết liệt, nhằm tước đoạt tính mạng của anh C2, bị cáo bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Việc anh C2 không chết nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo Nguyễn S do anh C2 được gia đình đưa đi cứu chữa kịp thời.

Theo Án lệ số 47/2021/AL về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đánh vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại; Án lệ số 45/2021/AL về xác định: bị cáo phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt” được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Và theo Án lệ số 17/2018/AL về tình tiết “Có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người” được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Trường hợp này bị cáo phạm tội “Có tính chất côn đồ”;

Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt” với tình tiết định khung hình phạt là phạm tội “Có tính chất côn đồ”;

Việc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn S về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo phải đánh giá là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, thể hiện tính chất côn đồ, hung hãn nên Hội đồng xét xử sơ thẩm cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: do đã áp dụng tình tiết phạm tội “Có tính chất côn đồ” là tình tiết định khung của tội “Giết người” nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nữa.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại về dân sự cho bị hại Hồ Văn C2; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đầu thú khai nhận hành vi của mình; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Mặc khác, bị cáo đã hoàn thành về mặt hành vi nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra, là phạm tội chưa đạt đã hoàn thành nên cần áp dụng Điều 57 BLHS khi quyết định về hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: thương tích của bị hại Hồ Văn C2 là hậu quả do hành vi trái pháp luật của bị cáo Nguyễn S gây ra nên bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho anh C2.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại Hồ Văn C2 không yêu cầu bị cáo Nguyễn S phải bồi thường số tiền còn lại là 18 triệu đồng. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận, không trái với pháp luật nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: con dao mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã vứt bỏ, không truy tìm được nên không xem xét xử lý.

Các vấn đề khác:

Đối với Huỳnh Thị Bích P1 và Hồ Văn C2 có hành vi chửi bới S, nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ đến Công an xã A (nay là Công an xã P, tỉnh Khánh Hòa) để xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Ý kiến của Người bào chữa cho bị cáo đề nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn S có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 31-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn S phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 57 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn S 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày: 13/6/2025.

- Về trách nhiệm dân sự: Không buộc bị cáo Nguyễn S có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về dân sự cho bị hại Hồ Văn C2 do anh C2 không yêu cầu.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19 - 09 - 2025).

Cỡ chữ