- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương N sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 202…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương N phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2025/HS-ST Ngày: 16-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đổng Thị Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thục
Bà Nguyễn Minh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Chu Hương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 95/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025, đối với:
Bị cáo Lương N. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 04/9/1998, tại tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số *******, ngày cấp: 15/11/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: thôn B, xã B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương D, sinh năm 1964 và bà Vy P, sinh năm 1965; Vợ, con: không; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 13/7/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ra quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn; Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/HS-ST ngày 11/7/2018 của Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/HS-ST ngày 15/7/2020 của Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đều đã được xóa án tích. Ngày 20/02/2022 bị Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã được xoá tiền sự. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/8/2025, tạm giam từ ngày 24/8/2025 đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm N, sinh năm 1983; địa chỉ: Số X, đường T, phường K, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
Người chứng kiến: Ông Vi T, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 45 phút, ngày 15/8/2025, Công an phường T, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an phường Đ, tỉnh Lạng Sơn và Phòng Cảnh sát ma tuý, Công an tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu vực đường N, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Lương N có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi quần bên trái phía trước của Lương N 01 bơm kim tiêm có dòng chữ DISCARD AFTER USE, chưa qua sử dụng và một gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có một gói giấy có dòng kẻ, kích thước 1,5 cm x 01cm bên trong có chất bột màu trắng. Lương N khai là ma tuý Heroin của Lương N cất giấu để sử dụng.
Tang vật, đồ vật thu giữ gồm 01 gói giấy vệ sinh màu trắng kích thước 1,5 cm x 01cm, bên trong có 01 gói giấy có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy Heroin; 01 bơm kim tiêm có dòng chữ DISCARD AFTER USE, chưa qua sử dụng; 01 xe máy điện nhãn hiệu GOGO CROSS S, màu sơn xanh, đã qua sử dụng, không có biển số, không có gương chiếu hậu.
Quá trình điều tra xác định, khoảng 09 giờ 35 ngày 15/8/2025, Lương N một mình điều khiển xe máy điện nhãn hiệu GOGO CROSS S đến khu vực bờ hồ P mua 01 gói ma tuý với người đàn ông tên Q với giá 200.000 đồng, sau đó đi mua 01 bơm kim tiêm và tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực đường N, phường Đ thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, bắt quả tang.
Quá trình điều tra còn xác định, Lương N là người nghiện ma túy, ngày 13/7/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (nay là Toà án nhân khu vực 1 – Lạng Sơn) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn, ngày 09/12/2024 chấp hành xong. Ngày 18/12/2024, Ủy ban nhân dân xã C, huyện C (nay là Ủy ban nhân dân xã B), tỉnh Lạng Sơn ra quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn từ ngày 18/12/2024 đến ngày 18/12/2026. Khoảng 09 giờ 30 sáng ngày 14/8/2025, Lương N mượn xe máy điện nhãn hiệu GOGO CROSS S của ông Phạm N đến khu vực bờ hồ P gặp và nhờ một người đàn ông tên Q (không rõ lai lịch) mua hộ 200.000 đồng ma tuý. Sau đó, Lương N đem ma tuý về nhà tại thôn B, xã B, tỉnh Lạng Sơn tự sử dụng hết bằng hình thức hít. Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 15/8/2025 kết luận Lương N dương tính với chất ma tuý trong cơ thể.
Tại bản Kết luận giám định số 672/KL- KTHS ngày 18/8/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, xác định chất bột màu trắng có trong 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ (kích thước 1,5cm x 01cm) gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,219 gam (đã trừ bì).
Tại bản Kết luận giám định số 713/KL-KTHS ngày 29/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Mẫu nước tiểu thu của Lương N tìm thấy chất ma túy Morphine.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 20/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lương N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50, 55 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lương N từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt từ 02 (hai) năm đến 02 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt bị cáo Lương N phải chấp hành chung của hai tội là 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15 (sau đây gọi là Bộ luật Tố tụng hình sự): Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy hoàn lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng. Trả lại chiếc xe máy điện nhãn hiệu GOGO CROSS S, màu sơn xanh, đã qua sử dụng, không có biển số, không có gương chiếu hậu cho chủ sở hữu là ông Phạm N.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
Lời nói sau cùng, bị cáo có ý kiến: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến ông Vi T, tuy nhiên ông Vi T đã có lời khai trong hồ sơ, do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Vi T theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, các lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và các tài liệu khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 14/8/2025, tại nhà của Lương N, thôn B, xã B, tỉnh Lạng Sơn, Lương N đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy thì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, giám định mẫu nước tiểu thu giữ của Lương N tìm thấy chất ma túy Morphine. Sau đó, khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 15/8/2025, tại khu vực đường N, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn, Lương N có hành vi tàng trữ trái phép 0,219 gam ma túy Heroin để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, sử dụng trái phép chất ma tuý bị cáo Lương N có đầy đủ năng lực hành vi, do vậy việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đối với bị cáo Lương N là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Như vậy, có đủ cơ sở kết tội bị cáo Lương N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội Sử dụng trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân và tạo tiền đề cho các hành vi phạm tội khác, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, vì vậy đối với hành vi tàng trữ, sử dụng của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo từng bị kết án tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/HS-ST ngày 11/7/2018 của Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 21/10/2018, chấp hành xong án phạt tù và các phần quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích; Bản án hình sự sơ thẩm số 86/HS-ST ngày 15/7/2020 của Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 03/10/2021 chấp hành xong án phạt tù và các phần quyết định khác của bản án, đã được xóa án tích. Ngày 20/02/2022 bị Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã được xoá tiền sự.
Bị cáo có 01 tiền sự, ngày 13/7/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ra quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Ngày 09/12/2024 chấp hành xong quyết định (chưa được xóa tiền sự). Tuy nhiên đây là một trong các tình tiết, điều kiện để định tội Sử dụng trái phép chất ma tuý, do đó không sử dụng tiền sự làm căn cứ đánh giá tăng nặng khi quyết định hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh ngày 21/10/2025 tại địa phương thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu, tiêu huỷ đối với số ma tuý còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói. Đối với 01 bơm kim tiêm có dòng chữ DISCARD AFTER USE (chưa qua sử dụng) cần tịch thu, tiêu huỷ do không có giá trị sử dụng.
Đối với xe máy điện nhãn hiệu GOGO CROSS S, màu sơn xanh, đã qua sử dụng, không có biển số, không có gương chiếu hậu, ông Phạm N giao xe cho Lương N mượn, không biết việc Lương N dùng xe để đi mua ma tuý. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, ông Phạm N đề nghị được nhận lại chiếc xe trên do đó, căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại cho ông Phạm N.
Đối với vật chứng vụ án là mảnh giấy bạc, bật lửa, sau khi sử dụng ma túy vào ngày 14/8/2025, Lương N đã đem vứt vào thùng rác nên không thu giữ được.
Đối với người đàn ông tên Q, là người mua ma túy hộ Lương N vào ngày 14/8/2025 và ngày 15/8/2025, do không xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh để điều tra trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 55; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15.
Căn cứ điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; các điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15.
Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương N phạm các tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương N 03 (ba) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; 02 (hai) năm tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, bị cáo Lương N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 15/8/2025.
3. Xử lý vật chứng
3.1 Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì ghi chữ “Tang vật thu giữ của Lương N” (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,162 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (vật dụng) đựng mẫu vật (cũ); 01 bơm kim tiêm có dòng chữ DISCARD AFTER USE, chưa qua sử dụng.
3.2. Trả lại 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu GOGO CROSS S, màu sơn xanh, đã qua sử dụng, không có biển số, không có gương chiếu hậu cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Phạm N.
( Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21 tháng 11 năm 2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lạng Sơn và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - tỉnh Lạng Sơn).
4. Về án phí: Bị cáo Lương N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV06 Công an tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PC10 Công an tỉnh Lạng Sơn; - CQ CSĐT Công an tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 1 - Lạng Sơn; - Phòng THADS khu vực 1 - Lạng Sơn; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, HCTP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đổng Thị Ninh |