vanban.org

Bản án 95/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: bị cáo Võ Xuân V 03 (ba) năm 7 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 9 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý thương tích” của bản án hình sự sơ thẩm số 170/2024/HSST ngày 26/7/2024, buộc bị cáo V chấp hành…

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 588, 590 của Bộ luật dân sự. Bị cáo Võ Xuân V phải bồi thường cho anh Đinh Duy P số tiền là 71.000.000đ (Bảy mươi mốt triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) hiện đang được gửi giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Xuân V "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Võ Xuân V 03 (ba) năm 7 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 9 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý thương tích” của bản án hình sự sơ thẩm số 170/2024/HSST ngày 26/7/2024, buộc bị cáo V chấp hành…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 134 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH KHÁNH HÒA
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/HS-ST
Ngày 17-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đặng Trần Khoa

bà Nguyễn Thị Lý - Giáo viên hưu trí

- Thư ký phiên tòa: bà Hồ Thị Thư - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố N - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 389/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 360/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Xuân V - sinh ngày 13/5/2006 tại Khánh Hòa; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: tổ 22T - phường V - thành phố N - Khánh Hòa; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông (không rõ) và bà Võ Thị Minh T (1987); Tiền sự, tiền án: không; Nhân thân: + Bản án số 170/2024/HSST ngày 26/7/2024, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 02 năm 3 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. + Cáo trạng số 113/CT-VKSNT ngày 08/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 25/6/2023 tại Cảng Vĩnh Lương - thành phố N; Đang chấp hành án tại Trại giam Đắk Trung - Cục C10 Bộ Công an; Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa: bà Nguyễn Thị Bích T - sinh năm 1972 - luật sư Văn phòng luật sư Đặng Văn Pháo thuộc Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa bào chữa cho bị cáo Võ Xuân V theo yêu cầu của bị cáo; Có mặt tại phiên tòa.

Địa chỉ: 107 đường P - phường T - thành phố N - Khánh Hòa.

- Bị hại: Đinh Duy P - sinh ngày 04/10/2006; Có mặt.

Trú tại: 117E đường H - phường T - thành phố N - Khánh Hòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Võ Thị Minh T - sinh năm 1987 (mẹ đẻ của bị cáo Võ Xuân V); Có mặt tại phiên tòa. Trú tại: tổ 22T - phường V - thành phố N - Khánh Hòa

- Những người tham gia tố tụng khác: + Người làm chứng: Phạm Trường A - sinh năm 2005; Vắng mặt.

Trương Thanh H - sinh năm 2005; Vắng mặt.

Bùi Quốc K - sinh năm 1992; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 05/4/2023, Võ Xuân V ngồi ăn uống cùng một số người bạn (chưa rõ nhân thân, lai lịch) tại đìa bỏ hoang ở đường Đ, thì T (chưa rõ lai lịch), bạn ngoài xã hội của V gọi điện thoại cho V rủ đi đánh nhóm Duy P ở Lương Sơn, V đồng ý. Sau đó, V rủ cả nhóm đi, cả nhóm đồng ý. Khi đi, V cầm 01 kiếm dài khoảng 01m cùng nhóm bạn đi đến chỗ hẹn với T là khu vực gần Bãi Dương trên đường Đ thuộc thôn S3 - xã L - thành phố N. Đến nơi, nhóm V cùng nhập nhóm với T và một số người khác không rõ (bạn do T rủ tới), đã chuẩn bị sẵn hung khí. Khoảng 22 giờ 30 phút, cùng ngày, Đinh Duy P điều khiển xe máy chở Lê Ngọc Khánh V đi ngang qua nhóm T đang đứng khoảng 50m thì dừng xe máy lại để đợi bạn là Phạm Trường T chở Trương Thanh H đi phía sau. V thấy P và nhận định P là người cầm đầu nhóm Duy P nên cầm kiếm đi lại chém P 3 nhát gây thương tích. Những người trong nhóm T chạy lại can ngăn V, sau đó, cả nhóm bỏ đi. P được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa. Tại bản kết luận giám định tổ thương cơ thể trên người sống số 567/23/KLTTCT-PYKH ngày 01/8/2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Khánh Hòa đối với Đinh Duy P:

- Vùng mu bàn tay phải có một vết sẹo kích thước (6,5x0,5)cm, sẹo khô, tỷ lệ thương tật 02%.

- Vùng khuỷu tay phải có một vết sẹo kích thước (09x0,5)cm, sẹo khô, tỷ lệ thương tật 02%.

- Vùng cẳng chân phải có một vết sẹo kích thước (07x0,2)cm, sẹo khô, tỷ lệ thương tật 02%.

- Gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay phải, tỷ lệ thương tật 23%.

- Gãy xương bàn V tay phải, tỷ lệ thương tật 07%. Tổng phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Duy P tại thời điểm giám định là 33%. Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: ngoại lực tác động. Tác nhân: vật sắc. Tại bản cáo trạng số 332/CT-VKSNT ngày 21/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Võ Xuân V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 (viện dẫn điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo V từ 03 năm 7 tháng tù đến 04 năm 7 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Về trách nhiệm dân sự và án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh, thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, về mức hình phạt thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đã nêu thì bản thân bị cáo chỉ mới học đến lớp 6 và khi phạm tội tuổi còn nhỏ (chỉ hơn 16 tuổi) nên nhận thức pháp luật của bị cáo có phần hạn chế, bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt: bị cáo chỉ có mẹ, thiếu sự chăm sóc của người cha nên cũng phàn nào thiệt thòi hơn các bạn đồng trang lứa. Do đó, mong Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đảm bảo tính giáo dục và răn đe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện rõ lời khai của những người này nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 05/4/2023, tại khu vực gần Bãi Dương trên đường Đ thuộc thôn S3 - xã L - thành phố N, Võ Xuân V, mặc dù không có mâu thuẫn gì với anh Đinh Duy P nhưng bị cáo V đã dùng hung khí nguy hiểm là kiếm chém anh P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 33%. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm c khoản 3 (viện dẫn điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Giữa bị cáo và anh P không có mâu thuẫn gì, nhưng bị cáo đã ngang nhiên sử dụng kiếm chém anh P nhiều nhát vào tay và chân. Hành vi này của bị cáo thể hiện tính côn đồ. Bản thân của bị cáo thường xuyên tham gia các vụ gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích, cụ thể: ngày 26/7/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 02 năm 9 tháng tù về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 15/02/2023 tại quán C và L. Trong quá trình Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố N đang tiến hành điều tra vụ việc, bị cáo lại chém anh P gây thương tích, sau đó đến ngày 25/6/2023, bị cáo tiếp tục gây ra vụ cố ý gây thương tích xảy ra ngày 25/6/2023 tại khu vực Cảng L - thành phố N. Điều này thể hiện thái độ ngông cuồng, xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, cần phải tổng hợp hình phạt của hai bản án và xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình nộp 5.000.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N để bổi thường cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đồng thời, khi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng chính sách pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội để xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội. [5] Đối với các đối tượng Nguyễn Tấn L, Lê Duy K, Nguyễn Quốc T, Võ Quang V (đều trú tại Sơn Thủy - phường Vĩnh Phước - thành phố N) là những người ngồi nhậu cùng với bị cáo và được bị cáo rủ cùng đi đánh Đinh Duy P và một số người trong nhóm "T" như Huỳnh Văn S (thôn S - xã L - thành phố N), Trần Hoàng L (nhà ở đường C - phường N - thành phố N) và Nguyễn Ngọc T (nhà ở đường Đ - phường V - thành phố N), Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố N đã tiến hành xác minh tại Công an địa phương nhưng tại các địa phương này không có các đối tượng có tên nêu trên hoặc không đủ thông tin để Công an địa phương có thể trả lời xác minh. Tại phiên tòa, bị cáo V xác định chỉ nghe nói địa chỉ nhà của các đối tượng này là như vậy, bị cáo không thể chỉ được nhà cụ thể các đối tượng này. Do đó, Hội đồng xét xử kiến nghị Công an tỉnh Khánh Hòa tiếp tục điều tra, xem xét làm rõ đối với các đối tượng có tên trên, nếu có cơ sở thì xem xét trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng này. [6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại anh Đinh Duy P yêu cầu bị cáo V bồi thường tổng số tiền là 128.000.000đ, trong đó: tiền viện phí thuốc điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa là 10.000.000đ, tiền mua thuốc bổ máu truyền tại nhà 700.000đ/ngày x 15 ngày =10.500.000đ, tiền thuê người về nhà chăm sóc 500.000đ/ngày x 30 ngày = 15.000.000đ, tiền mất thu nhập do hạn chế khả năng lao động 3.000.000đ/tháng x 12 tháng = 36.000.000đ, phẫu thuật lấy vít khỏi cơ thể + bồi dưỡng sức khỏe 5.000.000đ, tổn thất tinh thần 46.000.000đ. Hội đồng xét xử nhận thấy: đối với tiền mua thuốc bổ tại nhà, anh P không có đơn thuốc của bác sỹ hay hóa đơn chứng từ thể hiện nên không thể chấp tiền mua thuốc bổ máu truyền tại nhà là 10.500.000đ. Đối với tiền viện phí và điều trị trong những ngày điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa, anh P xác định anh có bảo hiểm y tế và được bảo hiểm chi trả 80%, do đó, Hội đồng xét xử chỉ có cơ sở chấp nhận chi phí điều trị tại Bệnh viện là 20% của 10.000.000đ là 2.000.000đ. Tiền công thuê người chăm sóc tại nhà: theo kết luận giám định thì tỷ lệ thương tật của anh P tại thời điểm giám định là 33%, giấy chứng nhận thương tích xác định thương tích lúc ra viện là bệnh nhân ổn định, vết thương khô nên đối với thương tích này của anh P, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận mức tiền người chăm sóc là 200.000đ/ngày x 30 ngày = 6.000.000đ. Tiền mất thu nhập do hạn chế khả năng lao động, Hội đồng xét xử chấp nhận mức 3.000.000đ x 4 tháng = 12.000.000đ. Tiền phẫu thuật lấy vít và bồi dưỡng sức khỏe từ khi anh P bị bị cáo V chém đến nay, Hội đồng xét xử chấp nhận 5.000.000đ. Việc bị cáo V chém anh P gây thương tích 33% đã làm ảnh hưởng đến tinh thần của anh P nên việc anh P yêu cầu bị cáo V bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 46.000.000đ là có cơ sở. Như vậy tổng số tiền bị cáo V phải bồi thường cho anh P: 2.000.000đ + 6.000.000đ + 12.000.000đ + 5.000.000đ + 46.000.000đ = 71.000.000đ.

Ngày 02/12/2024, bà Võ Thị Minh T (mẹ của bị cáo Võ Xuân V) có nộp thay cho bị cáo Võ Xuân V số tiền 5.000.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N để bồi thường cho bị hại Đinh Duy P nên cần khấu trừ khoản tiền này vào tiền bồi thường cho anh P, và bị cáo V tiếp tục bồi thường thêm số tiền 66.000.000đ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự là 5% đối với số tiền phải bồi thường cho anh P, cụ thể: [(71.000.000đ x 5) : 100] = 3.550.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 3 (viện dẫn điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 56 của Bộ luật hình sự; Điều 119; Điều 179 của Luật tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Võ Xuân V.

Xử phạt: bị cáo Võ Xuân V 03 (ba) năm 7 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 9 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý thương tích” của bản án hình sự sơ thẩm số 170/2024/HSST ngày 26/7/2024, buộc bị cáo V chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 06 (sáu) năm 4 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 588, 590 của Bộ luật dân sự.

Bị cáo Võ Xuân V phải bồi thường cho anh Đinh Duy P số tiền là 71.000.000đ (Bảy mươi mốt triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) hiện đang được gửi giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N. Bị cáo V còn phải tiếp tục bồi thường cho anh P số tiền là 66.000.000đ (Sáu mươi sáu triệu đồng).

Tiếp tục tạm giữ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để đảm bảo thi hành án. Số tiền này hiện nay đang được gửi giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N theo biên lai thu tiền số 0002587 ngày 02/12/2024. Về án phí: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Võ Xuân V nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.550.000đ (Ba triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ