- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Sơn L và bị đơn Điền Hữu H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Sơn L.
- Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 9 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thạch Văn Hòa
Ông Châu Thanh Vũ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Duy, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Bé Năm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Sơn L, sinh ngày 01/01/19xx
Địa chỉ: ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng
Địa chỉ sau sáp nhập: Số nhà A ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ; Căn cước công dân số: xxxxxx (vắng mặt, nhưng ông L có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Điền Thúy L1 (Điền Thị T), sinh năm 19xx
Địa chỉ: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;
Địa chỉ sau sáp nhập: Số nhà A ấp B, xã A, thành phố Cần Thơ; Chứng minh nhân dân số: xxxxx (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 6 năm 2025 của nguyên đơn là ông Sơn L và một số lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại Đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn đều trình bày:
Nguyên đơn là ông Sơn L và bị đơn là bà Điền Thúy L1 (tên gọi khác là Điền Thị T) kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 27/4/2012. Sau khi sống chung được khoảng một năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đời sống chung không mấy hòa thuận nên ông L1 đã bỏ đi và vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay.
Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có một con chung tên Sơn Điền Ngọc T1, sinh ngày 10/01/20xx. Hiện con chung đang sống chung với mẹ và ông bà ngoại.
Nguyên đơn ông L1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Ông L1 yêu cầu được ly hôn với bà Điền Thúy L1
Về con chung: Ông Sơn L đồng ý giao con chung là cháu Sơn Điền Ngọc T1 cho bà Đ Thúy Lan trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành và ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn bà Điền Thúy L1: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của ông Sơn L tại Thông báo thụ lý vụ án số: 21/TB-TLVA, ngày 17 tháng 7 năm 2025 và đã tống đạt hợp lệ cho bà L, cũng như đã triệu tập hợp lệ bà L đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần và Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà. Nhưng bà không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của ông L và cũng không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đồng thời, Tòa án cũng ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bà L cũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
* Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Cần Thơ trình bày ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn là ông Sơn L vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt là thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, riêng bị đơn là bà Điền Thúy L1 vắng mặt không có lý do là không thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Sơn L, về việc yêu cầu xin ly hôn với bà Điền Thúy L1 và đồng ý giao con chung là cháu Sơn Điền Ngọc T1 cho bà Đ Thúy Lan trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành và ông không cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, các yêu cầu nêu trên của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, về tài sản chung và nợ chung ông L1 tự trình bày không có, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn L1 yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn Điền Thúy L1 có địa chỉ tại ấp B, xã A, thành phố Cần Thơ. Nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Cần Thơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng bị đơn Điền Thúy L1 vẫn vắng mặt không rõ lý do, riêng nguyên đơn Sơn Lan vắng mặt, nhưng ông L1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn Sơn Lan và bị đơn Điền Thúy L1 theo quy định tại Điểm a và Đ1 b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông L1 và bà Thúy L1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 95/2012 vào ngày 27/4/2012, nên quan hệ hôn nhân giữa ông L1 và bà Thúy L1 là hợp pháp. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Như vậy, ông L1 có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Thúy L1.
Xét yêu cầu xin ly hôn của ông L1, Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi kết hôn, ông L1 và bà Thúy L1 cũng có thời gian dài chung sống hạnh phúc bên nhau từ năm 2012 đến năm 2013. Tuy nhiên, từ năm 2013, hai người bắt đầu phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung không còn hợp nhau, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày càng nhiều không thể hàn gắn được và nguyên đơn đã sống ly thân với bị đơn từ đó cho đến nay và ông L1 kiên quyết ly hôn với bị đơn vì không còn tình cảm yêu thương bị đơn Thúy Lan. Như vậy, ông L1 và bà Thúy L1 đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng, đó là không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không sống chung với nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của ông L1 là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông L1 ly hôn với bà Thúy L1.
Về con chung: Ông L1 đồng ý cho bà Điền Thúy L1 tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Sơn Điền Ngọc T1 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi ông L1 và bà Thúy L1 sống ly thân cho đến nay cháu T1 đều do bà Thúy L1 trực tiếp chăm sóc, cuộc sống của cháu đang ổn định, tâm lý về mọi mặt được đảm bảo và cháu T1 hiện tại cũng được bà Thúy L1 cho đi học đầy đủ. Đồng thời tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu T1 thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ. Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” chấp nhận yêu cầu của ông L1 là giao cháu T1 cho bà Thúy L1 được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, ông L1 là người không trực tiếp nuôi cháu T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T1, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Thúy Lan không có yêu cầu ông L1 phải cấp dưỡng nuôi cháu T1. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ngoài ra, Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 còn quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Như vậy, ông L1 là người không trực tiếp nuôi con nên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Sơn L tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích trên, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Cần Thơ.
Về án phí sơ thẩm: Ông L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 3 Điều 235 và Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 81, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Sơn L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Sơn L và bà Điền Thúy L1 (Điền Thị T).
2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Sơn Điền Ngọc T1 (nữ, sinh ngày 10/01/20xx) hiện đang sống chung với bà L1 cho bà L1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi.
2.1. Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề này ra để xem xét.
2.2. Ông L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở ông L1 thực hiện quyền này, theo quy định tại Khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông L1 tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông L1 phải chịu là 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001448 ngày 10/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6). Ông L1 đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND Tp Cần Thơ; - VKSND Khu vực 6 – Cần Thơ; - Các đương sự; - Phòng THA dân sự Khu vực 6; - UBND xã AN, Tp . Cần Thơ; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Kim Huệ |