vanban.org

Bản án 95/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị L được ly hôn với anh Phạm Hoàng Ph.

Về quan hệ con chung: Giao con chung gồm Phạm Thị Bích Th, sinh ngày 12/02/2013 và Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 03/12/2016, cho chị Đinh Thị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu. Cháu Th, cháu B có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị L được ly hôn với anh Phạm Hoàng Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27- 02- 2025
V/v ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Cẩm Bình

Ông Hà Bửu Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy An – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 522/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị L, sinh năm 1994 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: T ĐRM, xã ĐND, huyện ĐS,tỉnh ĐN

- Bị đơn: Anh Phạm Hoàng Ph, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Âp VB, xã NT, huyện GR, tỉnh KG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện chị Đinh Thị L nguyên đơn trình bày: Chị L và anh Phạm Hoàng Ph tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân có tổ chức lễ cưới vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐND, huyện ĐS, tỉnh ĐN. Sau khi kết hôn chị L và anh Ph hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cự cải. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, anh Ph không chăm lo cho gia đình vợ con mà lo ăn chơi mê cờ bạc nên chị bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ đầu năm 2022 và vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xét thấy giữa chị và anh Ph không còn tình cảm vợ chồng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Hoàng Ph.

Về con chung: Chị và anh Ph có với nhau 02 người con chung tên Phạm Thị Bích Th, sinh ngày 12/02/2013 và Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 03/12/2016, hiện đang sống cùng chị. Nay chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Ph phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Hoàng Ph đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng không có văn bản, ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, thẩm phán, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong quá trình tố tụng nguyên đơn và bị đơn vắng mặt. Nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chị Đinh Thị L và anh Phạm Hoàng Ph có đăng ký kết hôn theo quy định, nên xác định hôn nhân là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc nên cả hai đã sống ly thân nên xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng từ đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đinh Thị L với anh Phạm Hoàng Ph.

Về con chung: Chị L và anh Ph có hai người con chung gồm Phạm Thị Bích Th, sinh ngày 12/02/2013 và Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 03/12/2016, hiện đang sống cùng chị. Anh Ph vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng không có ý kiến hay yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.

Về tài sản chung không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh Ph với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại Âp VB, xã NT, huyện GR, tỉnh KGnên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Quá trình tố tụng nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đinh Thị L và anh Phạm Hoàng Ph là hôn nhân hợp pháp đã tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐND, huyện ĐS, tỉnh ĐN, đúng thẩm quyền đăng ký kết hôn quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị L cho rằng giữa chị anh Ph thường xuyên cự cải nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được chị L đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ đầu năm 2022. Đối với bị đơn Tòa án đã tiến hành thông báo các thủ tục tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi. Tuy nhiên, Tòa án tiến hành xác minh tại địa Ph nơi cư trú của anh Ph được biết anh Ph đã đi làm ăn xa vào những ngày nghỉ lễ, tết mới về địa Ph. Hiện tại vợ chồng không còn chung sống ở địa Ph. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L, anh Ph đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong Th luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh Ph.

Về con chung: Chị L và anh Ph có với nhau hai người con chung gồm Phạm Thị Bích Th, sinh ngày 12/02/2013 và Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 03/12/2016, sau khi vợ chồng sống ly thân các con sống cùng với chị L. Theo quy định của luật hôn nhân và gia đình quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn là nếu sau khi ly hôn vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con thì do Tòa án quyết định, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Trong suốt quá trình tố tụng anh Ph vắng mặt không có ý kiến về việc chị L không đảm bảo điều kiện nuôi con cũng như không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Xét thấy chị L cho rằng các con đang sống cùng chị nên để đảm bảo điều kiện phát triển cho các con và giữ sự ổn định nghị nên tiếp tục giao hai con cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định và nguyện vọng của các con. Về cấp dưỡng anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.

Cháu Th, cháu B có ngyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.

Anh Ph có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, chị Đinh Thị L phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu của Cơ quan Thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 228; Điều 235; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị L được ly hôn với anh Phạm Hoàng Ph.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung gồm Phạm Thị Bích Th, sinh ngày 12/02/2013 và Phạm Thị Ngọc B, sinh ngày 03/12/2016, cho chị Đinh Thị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không yêu cầu.

Cháu Th, cháu B có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.

Anh Phạm Hoàng Ph được quyền tới lui chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí sơ thẩm: Chị Đinh Thị L phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0008825 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị L, anh Phạm Hoàng Ph vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./.

Cỡ chữ