vanban.org

Bản án 95/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Phan Thị Duy P - Nguyễn Kiên C"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2025/DS-ST
Ngày 22 tháng 12 năm 2025
V/v Tranh chấp hợp đồng
mua bán.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Liêu Tài Ngoánh

Ông Huỳnh Tài Em

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân khu

vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau

tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau,

tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2025/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng mua bán, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2025/QĐXX-ST ngày 17 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Duy P, sinh năm 1984 – Chủ hộ kinh doanh đại

lý Tân Quang M.

Số căn cước: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 11/12/2024

Địa chỉ thường trú: Khóm 10, phường B, tỉnh Cà Mau

Địa chỉ liên hệ: Ấp 12, xã V1, tỉnh Cà Mau.

- Đồng bị đơn: Ông Nguyễn Kiên C, sinh năm 1978

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Bà Đặng Trúc L, sinh năm 1984

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V1, tỉnh Cà Mau

(Bà P có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông C, bà L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên

đơn bà Phan Thị Duy P – Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M trình bày: Từ ngày 25/4/2019 đến ngày 03/11/2020, chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M có bán thức ăn nuôi tôm và thuốc nuôi trồng thủy sản cho ông Nguyễn Kiên C và bà Đặng Trúc L. Tùy theo tình hình nuôi tôm thực tế để Tân Quang M giao số lượng thức ăn cụ thể. Ông C, bà L có nghĩa vụ thanh toán dứt điểm toàn bộ công nợ sau khi thu hoạch tôm. Tuy nhiên, sau khi thu hoạch tôm ông C, bà L có thanh toán nhưng không đầy đủ. Đến nay, ông Cuồng, bà L còn thiếu bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M số tiền 100.505.000 đồng. Ngày 31/10/2020, Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M với ông C, bà L có đối chiếu công nợ với nhau. Ông C, bà L cho rằng nuôi tôm bị thua lỗ không có tiền, nên không trả được số nợ trên.

Nay bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M yêu cầu

Tòa án buộc ông C, bà L trả số tiền nợ gốc còn thiếu là 100.505.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 31/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 0,83%/tháng.

* Về phía bị đơn ông Nguyễn Kiên C và bà Đặng Trúc L sau khi Tòa án thụ

lý vụ án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng cho ông C, bà L nhưng ông bà cũng không có mặt tham gia tố tụng tại Tòa trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án; ông C, bà L đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án, nên không có lời khai.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cà Mau phát biểu

quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ

án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu

khởi kiện của bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M, buộc ông Nguyễn Kiên C và bà Đặng Trúc L có nghĩa Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M số tiền nợ là 100.505.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/11/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 22/12/2025 là 60 tháng 22 ngày là 100.505.000 đồng x 0,83% x 61 tháng 22 ngày = 51.497.421 đồng.

Về án phí: Bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M

không phải chịu án phí; ông C, bà L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm

tra tại phiên tòa và quan điểm phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau. Hội đồng xét xử nhận định nội dung vụ kiện như sau:

[1]Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M

khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Kiên C và bà Đặng Trúc L trả số tiền mua thức ăn nuôi tôm còn thiếu là 100.505.000 đồng nên đây là tranh chấp về giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Kiên C và bà Đặng Trúc L có nơi cư trú tại ấp Vĩnh Hòa, xã V1, tỉnh Cà Mau, do đó Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn

Kiên C và bà Đặng Trúc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh

đại lý Tân Quang M khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Kiên C và bà Đặng Trúc L trả số tiền mua thức ăn nuôi tôm còn thiếu là 100.505.000 đồng và cung cấp “Bảng đối chiếu xác nhận công nợ đề ngày 31/10/2020”, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Từ năm 2019 giữa Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M và ông

Nguyễn Kiên C, bà Đặng Trúc L có giao dịch mua bán thức ăn tôm thẻ chân trắng, tôm sú nhãn hiệu Việt Hoa, Grobest và các nhãn hiệu khác cùng với thuốc, hóa chất cho nuôi trồng thủy sản với nhau. Vào ngày 31/10/2020 Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M với ông C, bà L có đối chiếu xác nhận công nợ, có chữ ký của ông C bên phần khách hàng. Như vậy, việc giao dịch mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc, hóa chất cho nuôi trồng thủy sản giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và có xảy ra trên thực tế.

[2.2] Mặc dù trong vụ án này Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông C,

bà L nhưng tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ chứng minh: “ Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp…”, đồng thời “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”, “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

[2.3] Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản

tố tụng cho ông C, bà L. Đồng thời Tòa án triệu tập ông C, bà L đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông C, bà L cũng không đến. Do đó, việc ông C, bà L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng có thể hiện nội dung mà bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M khởi kiện nhưng ông C, bà L không có ý kiến, không có yêu cầu gì là từ bỏ quyền chứng minh của mình khi tham gia tố tụng tại tòa án, cố tình trốn tránh trách nhiệm. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định ông C, bà L còn nợ bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M số tiền 100.505.000 đồng, nên yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M là có cơ sở nên được chấp nhận.

[3] Về yêu cầu tính lãi: Xét yêu cầu bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh

đại lý Tân Quang M yêu cầu Tòa án buộc ông C, bà L trả tiền lãi đối với số nợ gốc 100.505.000 đồng tính từ ngày 31/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm theo lãi suất 0,83%/tháng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Theo khoản 1, khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định trách

nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”.

Đối chiếu với quy định trên thì ông C, bà L phải chịu lãi suất 50% của

1,66%/tháng (tức 0,83%/tháng), tính từ ngày 31/10/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 22/12/2025 là 61 tháng 22 ngày là 100.505.000 đồng x 0,83% x 61 tháng 22 ngày = 51.497.421 đồng. Xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện này.

[4] Về án phí: Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M

không phải chịu án phí. Ông C và bà L có nghĩa vụ trả cho Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M số tiền nợ gốc là 100.505.000 đồng và lãi là 51.497.421 đồng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là: 152.002.421 đồng x 5% = 7.600.121 đồng.

[5] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ đề

nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91;

Điều 92; khoản 2 Điều 184; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 357, Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh

doanh đại lý Tân Quang M đối với ông Nguyễn Kiên C, bà Đặng Trúc L.

2. Buộc ông Nguyễn Kiên C và bà Đặng Trúc L trả cho Phan Thị Duy P - Chủ

hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M số tiền 152.002.421 đồng (trong đó nợ gốc là 100.505.000 đồng và lãi là 51.497.421 đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn

yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

Buộc ông Nguyễn Kiên C và bà Đặng Trúc L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm

có giá ngạch là 7.600.121 đồng.

Bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M không phải chịu

án phí. Bà Phan Thị Duy P - Chủ hộ kinh doanh đại lý Tân Quang M đã nộp tạm ứng án phí 3.730.000 đồng theo biên lai thu số 0002290 ngày 16/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau được hoàn lại toàn bộ số tiền đã nộp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong

thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Nơi nhận: -TAND tinh Cà Mau;

Cỡ chữ