vanban.org

Bản án 95/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huỳnh N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Nguyễn Minh V được ly hôn. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày xx/xx/xxxx và Nguyễn Minh Q, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Nguyễn Thị Huỳnh N được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Minh V phải cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng the… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huỳnh N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19/3/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Tỏ

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Lan – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 449/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm xxxx (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp x, xã T, huyện G, tỉnh T.

Tạm trú: Áp G, xã T, huyện G, tỉnh T.

* Bị đơn: Nguyễn Minh V, sinh năm: xxxx (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp x, xã T, huyện G, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Huỳnh N trình bày:

Chị N và anh V do quen biết, có tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng kí kết hôn. Sau khi cưới anh chị chung sống với gia đình chồng từ năm 2013 đến năm 2021 thì chị N về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là chị N và gia đình chồng xảy ra mâu thuẫn, anh V không tin tưởng chị mà bênh vực gia đình chồng, cuộc sống chung ngột ngạt, chị N không tiếp tục cuộc sống chung nên chị N về nhà mẹ sinh sống từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian không chung sống anh V không liên lạc để hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn nên chị N yêu cầu ly hôn với anh V.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày xx/xx/xxxx và Nguyễn Minh Q, sinh ngày xx/xx/xxxx, hiện nay 02 con đang sống chung với chị N. Ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, chị N yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 3.000.000 đồng (1.500.000 đồng/con/tháng). Tuy nhiên tại phiên tòa chị N thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật tối thiểu bằng ½ mức lương cơ sở cho mỗi cháu mỗi tháng. Thời gian cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Minh V vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị N mặc dù Tòa đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh V.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông phát biểu ý kiến: - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Huỳnh N, cho chị N được ly hôn với anh V. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày xx/xx/xxxx và Nguyễn Minh Q, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng, anh V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh N yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Minh V, sinh năm xxxx, tạm trú tại ấp x, xã T, huyện G, tỉnh T nên đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Minh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng anh V vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện ý kiến của anh V đối với yêu cầu khởi kiện của chị N nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Minh V.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh V có tổ chức cưới và đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét yêu cầu ly hôn của chị N, căn cứ vào lời khai của chị, Hội đồng xét xử nhận thấy, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị N và gia đình chồng xảy ra mâu thuẫn, anh V không tin tưởng chị mà bênh vực gia đình chồng, cuộc sống chung ngột ngạt, chị N không tiếp tục cuộc sống chung nên chị N về nhà mẹ sinh sống từ năm 2021 cho đến nay, trong thời gian không chung sống anh V không liên lạc để hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn nên chị N yêu cầu ly hôn với anh V. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông báo cho anh V biết yêu cầu ly hôn của chị N nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không quan tâm đến kết quả giải quyết vụ án ly hôn của anh với chị N như thế nào.Từ những tình tiết nêu trên, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N với anh V là có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Anh chị chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày xx/xx/xxxx và Nguyễn Minh Q, sinh ngày xx/xx/xxxx, hiện 02 con đang sống chung với chị N. Ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, chị N yêu cầu anh V cấp dưỡng theo quy định pháp luật tối thiểu bằng ½ mức lương cơ sở cho mỗi cháu mỗi tháng. Thời gian cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi. Nhằm tránh sự xáo trộn trong cuộc sống của con chung, hơn nữa anh V là cha nhưng không có ý kiến hay yêu cầu gì về việc nuôi dưỡng con chung nên cần giao 02 con chung cho chị N được tiếp tục nuôi dưỡng và anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng theo yêu cầu của chị N là phù hợp quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N có yêu cầu ly hôn nên chị N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và anh Nguyễn Minh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (Phần cấp dưỡng) theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Huỳnh N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N và anh Nguyễn Minh V được ly hôn.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Minh K, sinh ngày xx/xx/xxxx và Nguyễn Minh Q, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Nguyễn Thị Huỳnh N được tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Minh V phải cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng theo quy định pháp luật = ½ mức lương cơ sở cho mỗi cháu mỗi tháng. Thời gian cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.

Anh Nguyễn Minh V được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Huỳnh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013038 ngày 20/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Nguyễn Thị Huỳnh N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Anh Nguyễn Minh V phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Phần cấp dưỡng).

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với đương sự có mặt tại phiên tòa và kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ