vanban.org

Bản án 95/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 20/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Đ 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2023/HS-ST
Ngày 20/04/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tấn và bà Lê Thị Xuân.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quế - Thư ký TAND huyê ̣n Tiên Du.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Tiên Du , tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Chu Đức Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 04 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 80/2023/TLST-HS ngày 01/03/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2023/QĐXXST-HS ngày 06/04/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu phố Doãn Thượng, phường Xuân Lâm, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh); trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim B, sinh năm 1964 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1963; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1993; con: Có 02 con, con lớn sinh năn 2013, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/12/2022 đến ngày 08/12/2022. Hiện nay bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt)

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Huyền A, sinh năm 1975; HKTT: Trà Xuyên, Khúc Xuyên, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1986; hộ khẩu thưởng trú tại thôn Doãn Thượng, xã Xuân Lâm, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh làm nghề lái xe thuê cho chị gái ruột là chị Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1984, thôn Văn Quan, xã Trí Quả, thị xã Thuận Thành. Khoảng 12h ngày 03/12/2022, Đ điều khiển xe tải BKS: 99C-111.56, chở chị Liên đi từ Thuận Thành sang chợ rau củ quả tại địa phận thôn Bái Uyên, xã Liên Bão, huyện Tiên Du để mua hàng về bán. Khi sang đến nơi, chị Liên đi vào trong chợ mua hàng còn Đ ngồi đợi trên xe ô tô. Khoảng 12h 30 phút cùng ngày, Đ phát hiện thấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vios, BKS: 99A – 365.86 của chị Nguyễn Thị Huyền A, sinh năm 1975; HKTT: Trà Xuyên, phường Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đi qua và đỗ phía trước xe của Đ, chị Huyền A không kéo cửa kính ghế phụ và đi vào chợ rau củ quả nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trên xe của chị Huyền A để chi tiêu cá nhân. Đ đi đến sát xe của chị Huyền A xem trong xe có tài sản gì sẽ trộm cắp. Khi đến gần thì thấy phía trên mặt hộc để đồ của xe có để 01 chiếc túi xách bằng da màu đen, quan sát xung quanh vắng người, Đ nhanh chóng đưa tay vào phía bên trong xe (cửa kính không đóng) và trộm cắp được chiếc túi xách quay lại cất giấu vào thùng xe ô tô của mình. Sau đó, Đ chở chị Liên quay về nhà và mở chiếc túi xách ra kiểm tra thì thấy bên trong túi xách có 01 chiếc ví da màu nâu, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 6 màu hồng, tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 7.500.000đ; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe máy, 01 giấy phép lái xe ô tô đều mang tên chị Huyền A.

Ngày 05/12/2022, chị Huyền A đến Công an huyện Tiên Du trình báo sự việc bị mất cắp tài sản. Cùng ngày, Nguyễn Kim Đ nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến Công an huyện Tiên Du đầu thú và giao nộp toàn bộ số tài sản đã trộm cắp được của chị Huyền A gồm: 01 chiếc ví da màu nâu, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 6 màu hồng, tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 7.500.000đ; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe máy, 01 giấy phép lái xe ô tô đều mang tên chị Huyền A.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 122/KL-ĐGTSTTHS ngày 28/12/2022 ngày 22/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du kết luận: 01 chiếc túi xách bằng da, màu đen, nhãn hiệu SOHEE giá trị còn lại là 1.000.000 đồng; 01 chiếc máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 6, màu hồng, dung lượng 128 GB giá trị còn lại là 5.000.000 đồng; 01 chiếc ví bằng da, màu nâu giá trị còn lại là 200.000 đồng. Tổng giá trị là 6.200.000 đồng

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS-TD ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã truy tố bị cáo Nguyễn Kim Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có mặt đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

Bị hại chị Nguyễn Thị Huyền A vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai thể hiện: Chị Huyền A đã được nhận lại toàn bộ tài sản mà bị cáo Đ đã trộm cắp và không có ý kiến gì về phần trách nhiệm dân sự. Ngoài ra về phần trách nhiệm hình sự chị còn đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Đ từ 7 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng, tình từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Huyền A không có yêu cầu gì đối với bị cáo, nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 12h30’ ngày 03/12/2022, tại khu vực thôn Bái Uyên, xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Kim Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 túi xách bằng da trị giá 1.000.000 đồng; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Apple Ipad 6 trị giá 5.000.000 đồng; 01 ví giả da trị giá 200.000 đồng và số tiền 7.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị Huyền A, sinh năm 1975; HKTT: Trà Xuyên, Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh để chi tiêu cá nhân. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 13.700.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây tâm lý hoang mang, mất trật tự trị an nơi xảy ra tội phạm, vì vậy cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện ra đầu thú và được bị hại xin giảm nhẹ TNHS nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy: Bị cáo Nguyễn Kim Đ là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần buộc bị cáo phải cách ly ngoài xã hội mà chỉ cần xử bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị Huyền A đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

4. Liên quan trong vụ án:

- Đối với 01 chiếc túi xách; 01 máy tính bảng; 01 chiếc ví da; 01 thẻ căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe ô tô; 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Huyền A; số tiền 7.500.000 đồng là tài sản mà bị cáo đã trộm cắp của chị Nguyễn Thị Huyền A, nên ngày 05/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du đã trả lại toàn bộ số tài sản cho chị Huyền A là phù hợp.

- Đối với chị Nguyễn Thị Liên là người đi cùng Đ ngày 03/12/2022, chị Liên không biết về hành vi phạm tội của Đ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du không xử lý đối với chị Liên là phù hợp.

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Đ 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Kim Đ cho Ủy ban nhân dân phường Xuân Lâm, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Kim Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./

Cỡ chữ