vanban.org

Bản án 95/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vũ Q phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Vũ Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Vũ Q cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Vu Q "Su dung tai lieu gia của cơ quan tổ chức" - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vũ Q phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ơ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 95 /2023/HS-ST
Ngày: 12 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Kiều Vân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Lam

Ông Nguyễn Khánh Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023, Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 108/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 đối với Bị cáo:

Phạm Vũ Q, sinh năm 2001, tại tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; căn cước công dân số: 075201019097, cấp ngày 03/7/2022; Nơi cư trú: Số 5/4C, ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12. Q tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; con ông Phạm Anh T, sinh năm 1976 và bà Vũ Thị Kim H, sinh năm 1979; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em và chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/4/2023 sau đó thay đổi biện pháp ngăn chặn theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, Quyết định hoãn xuất cảnh từ ngày 24/4/2023 (Có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

1. Ông Nịnh Văn T1, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số 375/4, ấp Tân Yên, xã Gia Tân 3, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

2. Ông Phạm Anh T, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Số 5/4C, ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Người làm chứng đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ơ

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2023, thông qua mạng xã hội facebook, Phạm Vũ Q (sinh năm 2001, nơi thường trú 5/4C, ấp Đ, xã G, T, Đồng Nai) sử dụng tài khoản tên “Phạm Vũ Q” đã liên hệ với một tài khoản chuyên làm giấy tờ giả, bằng cấp cho học sinh, sinh viên (không xác định được tên tài khoản) để đặt làm giả 01 Giấy xác nhận sinh viên với giá 1.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận, Q đã chuyển khoản đặt cọc trước 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) và hẹn khi nhận được giấy giả sẽ trả 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) còn lại.

Khoảng 19 giờ ngày 29/11/2022, Q nhận được cuộc gọi từ số điện thoại của người lạ (Q không lưu và không nhớ số) yêu cầu đi đến khu vực gần cầu B (Thành phố Hồ Chí Minh) để nhận Giấy xác nhận sinh viên (giấy giả). Đến nơi, Q gặp 01 nam thanh niên (đã gọi hẹn trước, không rõ nhân thân lai lịch) và nhận 01 Giấy xác nhận sinh viên (giấy giả). Sau đó, Q điều khiển xe mô tô chạy về nhà tại ấp Đ, xã G, T, Đồng Nai và đưa Giấy xác nhận sinh viên (giả) cho mẹ ruột là bà Vũ Thị Kim H (sinh năm 1979) và nhờ bà H nói với bố ruột là ông Phạm Anh T (sinh năm 1976) nộp Giấy xác nhận cho Ban chỉ huy quân sự xã G.

Ngày 30/11/2022, ông Phạm Anh T đến Ban chỉ huy Quân sự xã G và giao nộp 01 (một) giấy xác nhận của Hiệu trưởng Trường Đại học Nguyễn Tất T (đề ngày 29/11/2022), xác nhận về việc Q hiện đang là sinh viên học của trường cho đồng chí Nịnh Văn T1 (Phó Chỉ huy trưởng BCH quân sự xã G) đang trực tại đơn vị.

Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã G đã có Công văn gửi đến Trường Đại học Nguyễn Tất T để xác minh về việc Phạm Vũ Q có phải là sinh viên của nhà trường hay không và Giấy xác nhận sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất T (đề ngày 29/11/2022) mang tên Phạm Vũ Q có phải do nhà trường cấp hay không. Trường Đại học Nguyễn Tất T đã có Công văn xác nhận Q hiện đã bị buộc thôi học theo Quyết định số: 6165/QĐ-NTT-ĐT ngày 28/11/2021 do nhà trường ban hành và trường không cấp Giấy xác nhận sinh viên cho Q. Xác định hành vi của Q là vi phạm pháp luật, HĐQS xã G đã chuyển tài liệu đến cơ quan Công an để xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã tạm giữ 01 (Một) Giấy xác nhận sinh viên trường Đại học Nguyễn Tất T mang tên Phạm Vũ Q. Ngày 21/4/2023, Phạm Vũ Q đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Thống Nhất đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình về việc “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nhằm mục đích trốn tránh việc khám sức khỏe để tham gia nghĩa vụ quân sự năm 2023. Ơ

Quá trình điều tra, Phạm Vũ Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Căn cứ Kết luận giám định số 233/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai:

- Hình dấu tròn Trường Đại học Nguyễn Tất T - Bộ Giáo dục và Đào tạo trên mẫu cần giám định (giấy xác nhận do Phạm Vũ Q cung cấp) và hình dấu tròn Trường Đại học Nguyễn Tất T - Bộ Giáo dục và Đào tạo trên mẫu cần so sánh (biên bản thu mẫu hình dấu tròn do trường Đại học Nguyễn Tất T cung cấp) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

- Chữ ký mang tên ThS. Nguyễn Thị Thu T trên mẫu cần giám định (giấy xác nhận do Phạm Vũ Q cung cấp) và chữ ký mang tên Nguyễn Thị Thu T trên mẫu cần so sánh (biên bản thu mẫu chữ ký của bà Nguyễn Thị Thu T - Cán bộ Trường Đại học Nguyễn Tất T do nhà trường cung cấp) không phải do cùng một người ký ra.

Cáo trạng số 65/CT.VKS.TN ngày 09/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất quyết định truy tố Phạm Vũ Q về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phát biểu luận tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Phạm Vũ Q về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Vũ Q từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

* Ý kiến của bị cáo Q tại phiên tòa: Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng và truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận hành vi của bản thân là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để có điều kiện học nghề, làm việc để lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Ơ

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Phạm Vũ Q tại phiên tòa đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 29/11/2022, thông qua mạng xã hội facebook, Phạm Vũ Q đã đặt làm giả là 01 (một) Giấy xác nhận sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất T, Tp.Hồ Chí Minh, sau đó mang về nhà đưa cho mẹ là Vũ Thị Kim H. Ngày 30/11/2022, ông Phạm Anh T (bố đẻ Q) giao nộp Giấy chứng nhận sinh viên giả cho Ban Chỉ huy Quân sự xã G, huyện T để xin tạm hoãn khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2023. Hậu quả: Hội đồng Nghĩa vụ quân sự xã G đã báo cáo và hoãn việc khám sức khỏe đi nghĩa vụ quân sự cho Phạm Vũ Q.

Từ đó có đủ cơ sở xác định hành vi trên của bị cáo Phạm Vũ Q đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do vậy, Cáo trạng số 65/CT.VKS.TN ngày 09/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Con dấu, giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức là đặc trưng của cơ quan, tổ chức, được dùng để khẳng định giá trị pháp lý đối với những văn bản, giấy tờ do cơ quan, tổ chức phát hành và được pháp luật bảo vệ. Do vậy, việc sử dụng con dấu, giấy tờ, tài liệu giả chính là xâm phạm đến hoạt động bình thường đúng đắn của cơ quan, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính, thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Mặt khác, nguyên nhân việc sử dụng giấy tờ giả của bị cáo nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự, là hành vi vi phạm pháp luật nên cần có mức án đủ nghiêm để răn đe giáo dục bị cáo, tuyên truyền pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo Q phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Q luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Khi biết hành vi của mình vi phạm pháp luật bị cáo đã tự giác ra đầu thú. Bị cáo phạm tội khi vừa mới qua độ tuổi thành niên nên trong nhận thức và hành động có phần hạn chế, là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Q có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận. Nhận thấy, việc không cách ly bị cáo để cải tạo không gây nguy hiểm cho xã hội, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Q, chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú có trách nhiệm quản lý, giám sát đối với bị cáo cũng đủ nghiêm, Ơ tạo điều kiện cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo thành công dân luôn biết tuân thủ pháp luật.

Hành vi khác có liên quan

Hành vi của ông Phạm Anh T là cha của bị cáo đã giúp bị cáo Q nộp “Giấy xác nhận” tại Ban chỉ huy quân sự xã G. Ông T chỉ nghe bị cáo nói là giấy để tạm hoãn nghĩa vụ quân sự, bị cáo Q cũng khai không nói cho ông T biết về việc giấy trên là giả nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với đối tượng có hành vi làm tài liệu của cơ quan, tổ chức nhà nước để cung cấp cho bị cáo Q không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xác minh, xử lý.

Về xử lý vật chứng

01 (một) Giấy xác nhận sinh viên (giấy giả) trường Đại học Nguyễn Tất T mang tên Phạm Vũ Q là tài liệu giả Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ làm chứng cứ cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên tòa có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q hội, bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Vũ Q phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Vũ Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Vũ Q cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”. Ơ

2. Về án phí: Bị cáo Phạm Vũ Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ