- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức H - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đức H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 95/2023/HS-ST Ngày 12 – 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Huy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Khanh.
2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoài Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Phạm Đức H, sinh ngày 09 tháng 09 năm 2001 tại tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã T, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Võ Thị Mỹ C; có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn từ ngày 26/12/2022. Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Võ Minh T, sinh năm 1996; địa chỉ: 93/3 tổ 164, ấp Tam Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh.(vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 2000; địa chỉ: 7B92 ấp A, xã P, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1932; địa chỉ: 53D đường L, Phường C, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có ý định chiếm đoạt tiền đặt cọc của người cần thuê xe ô tô du lịch nên Phạm Đức H đã lên mạng xã hội tải về điện thoại di động nhiều hình ảnh xe ô tô các loại, nhằm cung cấp cho người cần thuê để họ tin H có xe ô tô cho thuê và chuyển tiền đặt cọc cho H. Trong các ngày 06, 07, 08/7/2022, H sử dụng điện thoại di động, zalo cá nhân để thỏa thuận cho anh Võ Minh T thuê xe ô tô khách vào các ngày 10, 16,17/7/2022 và yêu cầu anh T chuyển tiền đặt cọc. Anh T đã dùng tài khoản cá nhân mở tại Ngân hàng Vietcombank–Chi nhánh Bắc Sài Gòn–Phòng giao dịch Hóc Môn chuyển 05 lần với tổng số tiền 4.000.000 đồng vào tài khoản cá nhân của H mở tại Ngân hàng ACB–Chi nhánh Hóc Môn theo yêu cầu của H. Sau khi nhận được 4.000.000 đồng tiền cọc, H xóa tài khoản zalo, vứt bỏ sim điện thoại, tiêu xài hết số tiền này. Ngày 10/7/2022, anh T liên lạc yêu cầu H cung cấp xe như thỏa thuận nhưng không được. Ngày 11/7/2022, anh T dùng tài khoản zalo khác đăng tin cần thuê xe ô tô, H đã liên lạc với anh T để thỏa thuận cho thuê xe, anh T hẹn gặp H để ký hợp đồng vào ngày 14/7/2022 tại quán cà phê Sala, số 26/43 khu phố A, phường T, Quận 12, Tp.Hồ Chí Minh, và trình báo Công an đưa H về trụ sở làm việc. Công an Quận 12 đã lập hồ sơ sự việc và chuyển cho Công an huyện Hóc Môn giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Hkhai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 01 xe gắn máy biển số 51M2-0212, số khung VDGWCH013DG-010750, số máy VDG1P52FMH-010750; 01 điện thoại di động hiệu Iphone11; 01 điện thoại di động hiệu Nokia.
Trách nhiệm dân sự: gia đình Phạm Đức H đã bồi thường cho bị hại Võ Minh T số tiền 4.000.000 đồng, anh T đã làm đơn bãi nại và không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản cáo trạng số: 103/CT-VKS-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Phạm Đức H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị tuyên bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện toại di động hiệu Iphone 11, trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia, trả lại cho anh H 01 xe gắn máy biển số 51M2-0212. Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.
Bị cáo Phạm Đức H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, xin được hưởng mức án nhẹ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Nguyễn Minh H khai mua xe 51M2-0212 từ năm 2021, giữ bản chính tờ xe nhưng không sang tên; anh H cho bị cáo mượn xe vào ngày 14/7/2022 nhưng không biết bị cáo sử dụng xe vào vệc phạm tội, và đề nghị được nhận lại xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Cụ thể:
Do có ý định chiếm đoạt tiền đặt cọc thuê xe du lịch của anh Võ Minh T nên trong các ngày 06, 07, 08/7/2022, bị cáo sử dụng điện thoại di động, mạng xã hội zalo gửi nhiều hình ảnh xe ô tô được tải về từ mạng xã hội cho anh T, làm anh T tin bị cáo có xe để cho thuê vào các ngày 10, 16,17/7/2022 và đã chuyển 05 lần tiền đặt cọc tổng số tiền 4.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân mở tại Ngân hàng Vietcombank–Chi nhánh Bắc Sài Gòn–Phòng giao dịch Hóc Môn vào tài khoản cá nhân của bị cáo mở tại Ngân hàng ACB–Chi nhánh Hóc Môn theo yêu cầu của bị cáo. Sau khi nhận tiền, bị cáo xóa tài khoản zalo, vứt bỏ sim điện thoại, tiêu xài hết số tiền đã chiếm đoạt. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, lời khai của chủ sử dụng hợp pháp các xe ô tô có biển số mà bị cáo đã gửi cho anh T, phù hợp với nội dung tin nhắn zalo trao đổi giữa bị cáo và anh T, phù hợp với nội dung biến động số dư tài khoản của bị cáo và của anh T do Ngân hàng cung cấp, và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án.
Bị cáo có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin giả làm anh T tin nhầm và đã chuyển khoản 05 lần tiền đặt cọc tổng số tiền 4.000.000 đồng theo yêu cầu của bị cáo và bị cáo đã chiếm đoạt số tiền này, đồng thời xóa tài khoản zalo, vứt bỏ sim điện thoại đã dùng để liên lạc với anh T. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định bị cáo Phạm Đức H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Bản cáo trạng số: 103/CT-VKS-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây ra dư luận xấu. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt số tiền 4.000.000 đồng của người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do đó, phải xử phạt nghiêm bị cáo để giáo dục bị cáo nói riêng và đảm bảo việc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra, bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng,…”. Tuy nhiên, quá trình điều tra thể hiện bị cáo không có việc làm, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn về mặt tội danh, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về xử lý vật chứng:
01 xe gắn máy biển số 51M2-0212, số khung VDGWCH013DG-010750, số máy VDG1P52FMH-010750: Bị cáo khai mượn của anh H để đi công việc. Anh H khai mua xe vào năm 2021 nhưng không sang tên, đang giữ bản chính giấy tờ xe và cho bị cáo mượn xe vào ngày 14/7/2022, không biết bị cáo sử dụng xe để phạm tội. Qua xác minh, xe do ông Đỗ Văn T(sinh năm 1932, thường trú tại 53D đường L, Phường C, Quận 11, Tp.Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu, ông T đã bán nhà chuyển đi đâu không rõ từ năm 2020. Kết luận giám định xác định số khung, số máy nguyên thủy, không thay đổi. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã có văn bản số 2988/CSĐT-ĐTTH ngày 07/3/2023 gửi Ban biên tập báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, về việc hỗ trợ đăng thông tin tìm chủ sở hữu, chủ sử dụng hợp pháp của chiếc xe nhưng không có kết quả. Vì vậy, giao trả chiếc xe này cho anh H.
01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, imei: 352672765592571: đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
01 điện thoại di động hiệu Nokia, imei 1: 357683108201478, imei 2: 357683108201486 là tư vật của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Minh T đã nhận đủ số tiền 4.000.000 đồng do gia đình bị cáo bồi thường, có đơn bãi nại và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Đức H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”,
1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Đức H 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2022.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, imei: 352672765592571.
- Trả lại cho bị cáo Phạm Đức H 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, imei 1: 357683108201478, imei 2: 357683108201486.
- Trả lại cho anh Nguyễn Minh H 01 (một) xe gắn máy biển số 51M2-0212, số khung VDGWCH013DG-010750, số máy VDG1P52FMH-010750.
Vật chứng của vụ án do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28 tháng 3 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn và Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Phạm Đức H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - VKSND huyện Hóc Môn; - Công an huyện Hóc Môn; - Chi cục THADS huyện Hóc Môn; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu: VP, hồ sơ. | (đã ký) Phạm Văn Huy |