- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị G xin ly hôn anh Vũ Chí H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị G về các vấn đề sau:
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14-4-2023 “v/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chất
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên và ông Nguyễn Đức Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 21/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1990;
HKTT: Thôn Đ, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Nơi ở hiện nay: Khu B, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Chí H, sinh năm 1986;
Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:
Chị và anh Vũ Chí H được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương vào ngày 13/5/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H mải chơi, không chịu khó làm ăn. Chị và gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H không nghe. Tháng 10/2019, anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ khi đi, anh H ít liên lạc về với chị và cũng không gửi tiền về để chị nuôi con. Do vợ chồng mâu thuẫn nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ cuối năm 2020 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Chí H.
Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Vũ Thị Thảo Ng, sinh ngày 26/9/2015, hiện đang ở cùng bà nội là Nguyễn Thị C. Sau khi ly hôn, chị và anh H thống nhất giao con chung cho anh H nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu chị phải cấp dưỡng tiền nuôi con, chị nhất trí.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do chị G không cung cấp được địa chỉ của anh H ở Đài Loan nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh H. Bà Nguyễn Thị C (là mẹ đẻ anh H) trình bày: Bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài nên không cung cấp cho Tòa án được. Tuy nhiên anh H vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh H biết. Quan điểm của anh H là do anh chị thường xuyên xảy ra cãi nhau, chị G đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ năm 2020 đến nay, vợ chồng không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau, nay chị G xin ly hôn thì anh H đồng ý. Về con chung: Anh và chị G có 01 con chung như chị G trình bày là đúng. Anh đề nghị được nuôi dưỡng con chung là Vũ Thị Thảo Ng. Do hiện nay anh đang ở nước ngoài nên đề nghị Tòa án tạm giao cháu Ng cho bà Nguyễn Thị C chăm sóc đến khi anh về nước. Anh tự nguyện không yêu cầu chị G phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị C có quan điểm: Trong thời gian anh H không ở Việt Nam, bà đồng ý nhận ủy quyền của anh H về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vũ Thị Thảo Ng, đồng thời bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị G ly hôn anh Vũ Chí H. Về con chung: Giao con chung là Vũ Thị Thảo Ng, sinh ngày 26/9/2015 cho anh Vũ Chí H nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị G cấp dưỡng tiền nuôi con. Trong thời gian anh H không có mặt tại Việt Nam, tạm giao cháu Ng cho bà Nguyễn Thị C (là mẹ đẻ anh H) trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi anh H về Việt Nam. Về án phí: Chị G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Anh Vũ Chí H hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh tại thành phố C, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị G không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu nhưng gia đình anh H đều trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh H ở Đài Loan. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị C là mẹ đẻ của anh H để bà C thông tin lại cho anh H biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị G và anh H. Đồng thời Tòa án cũng tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Chí H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C (nay là thành phố C), tỉnh Hải Dương vào ngày 13/5/2009 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị G trình bày do anh H không chịu khó làm ăn, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H không nghe. Còn theo anh H trình bày thì nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên hay xảy ra cãi nhau. Tháng 10/2019, anh H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ khi đi, anh H ít liên lạc về và cũng không gửi tiền để chị G nuôi con. Cuối năm 2020, chị G đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Nay chị G và anh H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị G có đơn xin ly hôn, anh H đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị G và anh H đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho chị G được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị G và anh Vũ Chí H có 01 con chung là Vũ Thị Thảo Ng, sinh ngày 26/9/2015, hiện đang ở cùng bà nội là Nguyễn Thị C. Khi ly hôn, chị G và anh H đều có quan điểm giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H tự nguyện không yêu cầu chị G cấp dưỡng tiền nuôi con. Do anh H đang ở nước ngoài nên ủy quyền cho bà Nguyễn Thị C thay anh chăm sóc cháu Ng cho đến khi anh về Việt Nam. Bà C đồng ý nhận ủy quyền của anh H. Xét thấy, thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật, do vậy cần chấp nhận thỏa thuận của chị G và anh H. Tạm giao cháu Vũ Thị Thảo Ng cho bà Nguyễn Thị C chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H không có mặt tại Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị G về các vấn đề sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị G ly hôn anh Vũ Chí H.
1.2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho anh Vũ Chí H được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Vũ Thị Thảo Ng, sinh ngày 26/9/2015 kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Tạm giao cháu Ng cho bà Nguyễn Thị C chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H không có mặt tại Việt Nam. Chấp nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị G phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số AA/2021/0003647 ngày 02 tháng 02 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị G đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị G vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Anh Vũ Chí H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương; - UBND xã L, TP. C, tỉnh Hải Dương; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chất |