vanban.org

Bản án 95/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về quan hệ hôn nhân xử: Anh Quốc Văn T được ly hôn chị La Thị T 2- Về con chung xử: Giao cháu Quốc Thị A, sinh ngày 26-10-2016 cho anh Quốc Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng, chị La Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Quốc Văn Trị khởi kiện xin ly hôn chị La Thị Thời"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử anh T; Điều 81 luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 82 luật hôn nhân và gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ơ
Bản án số: 95/2023/HNGĐ- ST
Ngày 16-8-2023
V/v ly hôn, nuôi con
chung sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN- TỈNH YÊN BÁI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Hoàng Văn Khiếu

- Ông Nguyễn Ngọc Minh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên tham gia phiên tòa: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền- Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 173/2023/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 18-7-2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31-7-2023 giữa;

Nguyên đơn: Anh Quốc Văn T, sinh năm 1977- Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Y

Bị đơn: Chị La Thị T, sinh năm 1984- Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Y

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 6 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Quốc Văn T trình bày: Anh T và chị La Thị T kết hôn với nhau ngày 09-9-2015, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L. Sau khi kết hôn anh T và chị T sống hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T đi làm ăn xa không quan tâm đến gia đình, con cái. Anh T và chị T đã sống ly thân từ năm 2017 không quan tâm đến nhau nữa. Anh T xác định tình cảm không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.

Về con chung: Anh T và chị T có một con chung tên là Quốc Thị A, sinh ngày 26-10-2016. Sau khi ly hôn anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Quốc Thị A, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị La Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành giải quyết vụ án, nhưng chị T vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tại phiên tòa hôm nay phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 xử: Anh T được ly hôn chị T; giao cháu Quốc Thị A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Thời không phải cấp dưỡng nuôi con, anh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân huyện L là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đã tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn.

{2} Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

{3} Về tình cảm: Anh Quốc Văn T và chị La Thị T kết hôn với nhau ngày 09-9-2015, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L. Đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T đi làm ăn xa không quan tâm đến gia đình, con cái. Anh T và chị T đã sống ly thân từ năm 2017 không quan tâm đến nhau nữa. Tại phiên tòa anh T vắng mặt, nhưng quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin xét xử vắng mặt anh T xác định tình cảm không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T. Về phía chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết vụ án nhưng đều vắng mặt không lý do. Mặc dù chị T biết việc anh T xin ly hôn nhưng chị T không có ý kiến gì. Tại biên bản xác minh ngày 13-7-2023 ở Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Y nơi anh T và chị T cư trú, sinh sống cũng xác nhận: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh T và chị T là do chị T đi làm ăn xa không quan tâm đến gia đình, con cái, anh chị đã sống ly thân từ năm 2017. Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn giữa anh T và chị T là trầm trọng. đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu xin ly hôn của anh T là có căn cứ, được chấp nhận. Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử anh T được ly hôn chị T.

{4} Về con chung: Anh T và chị T có một con chung tên là Quốc Thị A, sinh ngày 26-10-2016. Tại phiên tòa anh T vắng mặt, quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin xét xử vắng mặt anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu A, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Về phía chị T được Tòa án nhiều lần triệu tập đến Tòa án để giải quyết việc nuôi con chung nhưng chị T đều vắng mặt không có lý do. Mặc dù chị T biết việc anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu A, nhưng chị T không có ý kiến gì. Tại biên bản xác minh ngày 13-7-2023 ở Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Y cũng xác nhận: Cháu Quốc Thị A sống cùng anh T từ nhỏ đến nay, chị T không quan tâm đến con cái. Xét thấy: Cháu A sống cùng anh T từ nhỏ, hiện nay đang sống cùng anh T. Để đảm bảo về tâm lý và sự phát triển bình thường của cháu A cần giao cháu A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật, phù hợp với thực tế. Áp dụng các Điều 81, 82 và 83 luật hôn nhân và gia đình xử: Giao cháu A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

{5} Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét

{6} Về án phí: Anh T thuộc diện hộ nghèo có giấy chứng nhận hộ nghèo và có đơn xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, anh T thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự.

{7} Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về quan hệ hôn nhân xử: Anh Quốc Văn T được ly hôn chị La Thị T

2- Về con chung xử: Giao cháu Quốc Thị A, sinh ngày 26-10-2016 cho anh Quốc Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng, chị La Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3- Về án phí: Anh Quốc Văn T thuộc diện hộ nghèo được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

4- Quyền kháng cáo: Anh Quốc Văn T, chị La Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ