vanban.org

Bản án 95/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy K, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Đỗ Văn V.

Về việc nuôi con chung: 1. Chị Nguyễn Thị Thúy K được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cháu Đỗ Vĩnh Kh, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị K và anh V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy K, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Đỗ Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11-9-2023
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2023/QĐXX-ST ngày 07 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1988; Nơi cư trú: Khóm T1, thị trấn TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn V, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983; Nơi cư trú: Khóm T1, thị trấn TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 7 năm 2023, bản khai đề ngày 01 tháng 8 năm 2023 của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy K trình bày: Đầu năm 2007, qua mai mối chị có quen biết với anh Đỗ Văn V, qua thời gian tìm hiểu hai bên tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới cho chị và anh V trong năm 2007. Sau khi cưới xong hai vợ chồng chị cùng nhau về sống chung nhà với gia đình chồng. Hai vợ chồng chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TTT, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp ngày 20 tháng 02 năm 2009. Thời gian đầu hai vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc, đến giữa năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do mâu thuẫn trong chuyện tình cảm vợ chồng, anh V không lo làm ăn, không còn quan tâm đến gia đình dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Đến tháng 9 năm 2021, chị và con về nhà cha mẹ ruột của chị sinh sống, chị và anh V sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không hàn gắn tình cảm được nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Văn V. Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là Đỗ Vĩnh Kh, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2021, không yêu cầu anh Đỗ Văn V cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Đỗ Văn V đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy K được ly hôn với anh Đỗ Văn V; về nuôi con chung: Giao cháu Đỗ Vĩnh Kh, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2021 cho chị Nguyễn Thị Thúy K tiếp tục nuôi dưỡng, anh Đỗ Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Thúy K không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy K trình bày không có, còn anh Đỗ Văn V không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đỗ Văn V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Đỗ Văn V là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy K đối với anh Đỗ Văn V, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Nguyễn Thị Thúy K thì cuộc sống của chị và anh Đỗ Văn V không hạnh phúc từ giữa năm 2020, nguyên nhân do mâu thuẫn trong chuyện tình cảm vợ chồng, anh V không lo làm ăn, không còn quan tâm đến gia đình dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và vợ chồng đã không còn sống chung từ tháng 9 năm 2021. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị Thúy K với anh V hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Thúy K là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Thúy K ly hôn với anh V.

Về việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thúy K yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là Đỗ Vĩnh Kh, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2021, không yêu cầu anh Đỗ Văn V cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị Thúy K và anh V không còn sống chung và hiện nay thì cháu Vĩnh Kh do chị Thúy K chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu Vĩnh Kh còn dưới 36 tháng tuổi, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Thúy K được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Vĩnh Kh, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Thúy K không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Thúy K cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Đỗ Văn V không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến..

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy K, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thúy K và anh Đỗ Văn V.

2. Về việc nuôi con chung:

2.1. Chị Nguyễn Thị Thúy K được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng cháu Đỗ Vĩnh Kh, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2021.

2.2. Anh Đỗ Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy K chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004463 ngày 14 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ