- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thùy L "ly hôn"Lê Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy L đối với bị đơn ông Lê Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-8-2023 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ- TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thám.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Chí Thanh.
2. Ông Nguyễn Đăng Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trần Tấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 275/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1972; Địa chỉ: số 277 tổ 22, khu phố 2, thị trấn CĐ, huyện CĐ, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ: số 277 tổ 22, khu phố 2, thị trấn CĐ, huyện CĐ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 30 tháng 5 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy L trình bày: Bà và ông Lê Văn T tổ chức hôn lễ cưới vào năm 1993 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn CĐ, huyện CĐ ngày 02/8/2000, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 96 - Quyển số 01. Vợ chồng có ba con chung là cháu Lê Thị Thảo Ng1 sinh năm 1995, cháu Lê Thị Bích Ng2 sinh năm 2000 là người đã thành niên và đầy đủ năng lực hành vi và cháu Lê Trọng Nh sinh năm 2008. Cuộc sống vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ cãi nhau cuộc sống mất hạnh phúc, ông T hiện nay đã chung sống với người phụ nữ khác. Vợ chồng ly than từ năm 2012 đến nay. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Văn T. Về con chưa thành niên nên thì bà L yêu cầu được nuôi cháu Lê Trọng Nh và bà không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung bà xác định không có.
Bị đơn ông Lê Văn T vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Thùy L và ông Lê Văn T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân thị trấn CĐ, huyện CĐ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 96 – Quyển số 01 ngày 02/8/2000 nên hôn nhân là hợp pháp.
[1.2] Ông Lê Văn T là bị đơn, hiện nay có hộ khẩu thường trú tại số 277 tổ 22, khu phố 2, thị trấn CĐ, huyện CĐ, tỉnh Long An nên khi bà L có đơn khởi kiện ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Long An căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Bị đơn ông Lê Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 207, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thùy L:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T, theo bà L nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bà bất đồng về tư tưởng, lối sống, ông T hiện nay đã chung sống với người phụ nữ khác. Đồng thời, ông T vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày cho thấy ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà L. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà L và ông T không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thùy L là có căn cứ được chấp nhận.
Về con chung: Bà L và ông T có ba con chung là cháu Lê Thị Thảo Ng1 sinh năm 1995, cháu Lê Thị Bích Ng2 sinh năm 2000 là người đã thành niên và đầy đủ năng lực hành vi và cháu Lê Trọng Nh sinh ngày 16 tháng 5 năm 2008. Về con chưa thành niên thì bà L yêu cầu được nuôi cháu Lê Trọng Nh. Hiện nay cháu Nh đang ở với bà L và cháu cũng có nguyện vọng tiếp tục ở với bà L, ông T không có ý kiến phản đối về việc bà L yêu cầu được nuôi con chung nên giao cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định có nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà L xác định không có nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thùy L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy L đối với bị đơn ông Lê Văn T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy L được ly hôn với ông Lê Văn T.
Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Thùy L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là cháu Lê Trọng Nh, sinh ngày 16 tháng 5 năm 2008.Tạm thời ghi nhận ông Lê Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 84, Điều 85, Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền thăm nom con của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình nhưng được trừ 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005597 ngày 07/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CĐ, tỉnh Long An, bà L đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thùy L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Lê Văn T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện; - Chi cục THA DS huyện; - Cơ quan nơi đăng ký kết hôn - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Thám |