vanban.org

Bản án 95/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng: khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Minh Hiếu- Nguyễn Văn Tân"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 95/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 19/06/2023.
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Trung và ông Dương Thanh Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Sim - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tinh – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 06 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 80/2023/TLST-HNGĐ, ngày 14/02/2023, về việc“Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXX-HNGĐ, ngày 16/05/2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Số 41/9 đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T , sinh năm 1980

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố 12, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

(Hiện nay đang chấp hành án tại tại giam Đắk Trung – Tổng cục VIII – Bộ Công an. Địa chỉ: Xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk)(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Trong đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H trình bày: ản chung: Không yêu cầu n

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau có 01 con chung, sau đó mới tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 04/10/2017. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả nên dần không quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài và không thể hòa giải được. Chị đã cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không được. Đến năm 2019 thì anh T phạm tội về ma túy nên phải đi chấp hành án tại trại giam Đắk Trung, hai vợ chồng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Nay chị cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án xét xử cho chị được ly hôn anh Tân.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức M , sinh ngày 24/02/2017, hiện nay chị H đang nuôi con. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh Tân cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn T : Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án anh Tân đang chấp hành án tại trại giam Đắk Trung, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Tòa án đã tiến hành ủy thác lấy lời khai của anh Tân như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh chị chung sống với nhau có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 04/10/2017, quá trình sống chung giữa hai vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì. Nay chị H yêu cầu xin ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý thuận tình ly hôn.

Về con chung: Anh và chị H có một con chung là cháu Nguyễn Đức M , sinh ngày 24/02/2017, hiện nay anh T đang chấp hành án phạt tù nên chưa có điều kiện nuôi con nên anh đồng ý giao con cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi anh chấp hành xong bản án.

Về tài sản và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H . Cho chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T ; Giao cho chị Nguyễn Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức M ; Về cấp dưỡng nuôi con chị Hiếu không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra lại tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H yêu cầu xin được ly hôn và nuôi con đây là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt các thủ tục tố tụng cho chị H và anh Tân, chị H đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt còn anh T vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản điểm b; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh H và anh Nguyễn Văn T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình duy trì quan hệ hôn nhân Chị H và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả nhau. Hiện nay anh Tân đang chấp hành án tại trại giam Đắk Trung nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được và anh T cũng đồng ý ly hôn. Do vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H , cho chị H được ly hôn với anh T là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

………………………..

Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Nguyễn Đức M , sinh ngày 24/02/2017, chị H có nguyện vọng nuôi cháu M và anh T cũng đồng ý giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy hiện nay anh T đang chấp hành án nên không thể nuôi con chung được nên nguyện vọng của các đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35,điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 144, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng: khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H .

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh H được ly hôn với anh Nguyễn Văn T .

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Đức M , sinh ngày 24/02/2017 cho chị Nguyễn Thị Minh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3.Về tài sản tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng đã nộp theo biên lại thu số AA/2022/0000164, ngày 07/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án này được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ