- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất; và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn T về việc: buộc bị đơn bà Lương Thị Bé M trả lại diện tích đất do cha mẹ ông T cho là 404,6m2 được thể hiện các mốc t M5, M11, M12, M9, M10, M7, M4, về M5 thuộc một phần thửa đất số 54, tờ bản đồ 61, t a lạc tại xã B,…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 101 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2023/DS-ST Ngày: 15 - 12 - 2023 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất; và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Phượng.
2. Ông Nguyễn Minh Triều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diễm Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tr ng Huy - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 13, 15 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 24/2021/TLST-DS, ngày 19 tháng 01 năm 2021, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2023/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 9 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 199/2023/QĐST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lương Văn T, sinh năm 1968; Địa chỉ: H xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ;
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Lê Nguyễn Thị Trúc X, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số C, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; chị X là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lương Văn T (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 22/12/2020). Chị X có mặt tại phiên tòa ngày 13/12/2023, nhưng v ng mặt khi tuyên án ngày 15/12/2023.
- Bị đơn: Bà Lương Thị Bé M, sinh năm 1978; Số 234B ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số A, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; anh T1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lương Thị Bé M (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 10/5/2021). Anh T1 có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Lương Văn C, sinh năm 1972; Số 234B ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Ông C v ng mặt tại phiên tòa, không r lý do.
2/ Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp; địa chỉ: Khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện h p pháp của Ủy ban nhân dân huyện L: Bà Nguyễn Thị N; Ch c vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, là người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện L. Bà N v ng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị xét xử v ng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
T i đ n kh i ki n đ ngày 27/12/2020 của ông Lư ng Văn T và trong quá trình gi i quy t v án ch Lê Nguyễn Th Trúc X đ i di n nguyên đ n ông Lư ng Văn T trình bày:
Phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 54 tờ bản đồ số 61, t a lạc tại xã tại xã B, hiện do bà Lương Thị Bé M đ ng tên quyền sử dụng.
Nguồn gốc thửa đất 54 (được cấp đ i t việc nhập hai thửa đất số 177a, 177b c ng tờ bản đồ số 05a) là của ông bà để lại cho cha ông T là cụ Lương Văn B, cụ B quản lý sử dụng phần đất này trước năm 1975, đến năm 1987 cụ B chết. Sau khi cụ B chết thì phần đất này do mẹ ông T là cụ Nguyễn Thị M1 đ ng tên và quản lý sử dụng. Ông T, ông C, bà M là anh chị em ruột, t nh đến lớn các anh chị em sinh sống c ng với hai cụ B và M1 trong căn nhà được cất tại nền nhà c còn lại trên phần đất tranh chấp. Năm 1995, ông T cưới vợ nhưng vẫn sống c ng với hai cụ và các em. Sau đó, ông C có vợ ra riêng cất nhà kế phần đất tranh chấp (c ng trên thửa 54). Năm 2009, cụ M1 chết, trong nhà chỉ còn vợ chồng ông T và bà M, trước khi chết cụ M1 h a sẽ cho ông T phần đất nền nhà và căn nhà của gia đình đang ở; Năm 2013, bà M lấy chồng về nhà chồng ở huyện C, tỉnh An Giang sinh sống. Bà M làm việc trong ngành y tế, hiện công tác ở Bệnh viện phục hồi ch c năng tỉnh Đồng Tháp. Vợ chồng ông T sống tại căn nhà được cụ M1 cho đến năm 2018, do có ruộng đất canh tác nông nghiệp ở huyện V, thành phố Cần Thơ, nên ông T và gia đình tháo dỡ căn nhà của cụ M1 cho dời vào V sống để tiện việc làm ruộng. Do không có tiền cất nhà mới nên mới dỡ nhà c để tận dụng cất trên đất mới.
T xưa đến nay, ông T không biết việc đất thửa 54 này được cấp giấy lần đầu năm nào, cấp cho ai. Nhưng khi cụ M1 được đ ng tên quyền sử dụng đất thửa này, do là con trai sống c ng cụ M1 nên ông T được cụ M1 giao Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho ông T giữ. Đến khi cụ M1 chết, ông T c ng các anh chị em đến Ủy ban nhân dân xã B làm thủ tục chia di sản th a kế của cụ M1 để lại, trong đó có cả phần đất hiện nay là thửa đất số 54. Việc th a thuận và thủ tục pháp lý về phân chia di sản đã hoàn thành, riêng đối thửa 54, các anh em th a thuận làm theo di nguyện cụ M1 là chia làm hai phần cho ông C và ông T, tuy nhiên do tại thời điểm này có quy định về hạn m c tách thửa nên không thể thực hiện thủ tục tách thửa sang tên cho cả hai, cho nên ông T th a thuận với ông C sẽ giao ông C đ ng tên cả thửa, nhưng phần đất mẹ h a cho mình thì vẫn thuộc phần của ông T. Khi đó, các bên chỉ đến Ủy ban xã h i thủ tục thì biết là không thực hiện tách thửa được nên không có nộp hồ sơ đề nghị tách thửa nay không thể nộp ch ng c ch ng minh cho lời trình bày này. Nhưng sự việc này các anh chị em trong nhà đều biết.
Ông T không ý kiến, khiếu nại, hay yêu cầu gì về thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho cụ Lương Văn B trước kia, thủ tục sang tên t cụ B sang cụ M1 và thủ tục sang tên t cụ M1 sang ông C, vì thủ tục làm đúng quy định. Khi ông C nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất hiện là thửa 54, ông T c ng có ký tên để thực hiện thủ tục phân chia di sản th a kế t cụ M1. Còn việc ông T giao ông C đ ng tên d m phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất 54 chỉ là do hai anh em th a thuận bằng lời nói, không có làm văn bản giấy tờ gì. Việc ông C có thế chấp quyền sử dụng đất này để vay tiền hay không, việc ông C chuyển quyền sử dụng đất cho bà M khi nào thì ông T không hay biết. Chỉ sau khi phát sinh tranh chấp với ông C vào năm 2015 thì ông T mới biết sự việc.
Trong quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn có thay đ i yêu cầu khởi kiện nhiều lần. Khi khởi kiện ông Lương Văn T yêu cầu buộc bà Lương Thị Bé M trả lại diện tích đất cha mẹ cho ông T là 600m2; sau khi có kết quả xem xét thẩm định tại ch thì diện tích yêu cầu là 669,0m2 t các mốc M5, M11, M8, M6, M10, M7, M4, về M5; Đến ngày 19/4/2023, phía nguyên đơn lại thay đ i yêu cầu khởi kiện, cụ thể ông T yêu cầu bà M trả 404,6m2 t các mốc M5, M11, M12, M9, M10, M7, M4, về M5 (Các mốc được thể hiện theo Sơ đồ đo đạc thực tế phần đất tranh chấp) thuộc một phần thửa đất số 54, tờ bản đồ 61 do bà Lương Thị Bé M đ ng tên quyền sử dụng đất, đất t a lạc tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Theo đ n kh i ki n b sung ngày 25/9/2023 của ông Lư ng Văn T và t i phiên tòa, ngư i đ i di n h p pháp của nguyên đ n trình bày:
Do ông T cho rằng ông C với ý định trốn tránh nghĩa vụ với ông T nên đã tự ý định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất bao gồm phần ông T nhờ ông C đ ng tên d m. Cụ thể, ông C đã làm hợp đồng tặng cho bà M đối với cả thửa đất số 54, tờ bản đồ 61, trong khi ông T hoàn toàn không hay biết. Sự việc cụ M1 h a cho ông T phần đất tranh chấp, và ông C đ ng tên d m ông T phần đất này các anh chị em trong nhà đều biết. T những lý do trên ông T yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất t ông C sang bà M đối với thửa đất số 54, tờ bản đồ số 61. Đồng thời yêu cầu bà M trả cho ông T diện tích đất là 404,6m2 t các mốc M5, M11, M12, M9, M10, M7, M4, về M5 (Các mốc được thể hiện theo Sơ đồ đo đạc thực tế phần đất tranh chấp) thuộc một phần thửa đất số 54, tờ bản đồ 61 do bà Lương Thị Bé M đ ng tên quyền sử dụng đất, đất t a lạc tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Quá trình gi i quy t v án anh Nguyễn Văn Trung đ i d b đ n bà Lư ng Th Bé M trình bày:
Bà M thống nhất với lời trình bày của phía nguyên đơn là ông T về mối quan hệ anh chị em ruột giữa ông T, bà M và ông C; về nguồn gốc đất phần đất tranh chấp; quá trình quản lý sử dụng, c ng như thủ tục đ ng tên quyền sử dụng đất đến khi cụ M1 chết vào năm 2009.
Khi cụ M1 chết, ông T, ông C, bà M và tất cả các anh em thuộc hàng th kế th nhất của cụ M1 đến Cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục phân chia th a kế với nội dung để ông Lương Văn C nhận th a kế toàn bộ phần đất tranh chấp. T đó, ông C được đ ng tên hợp pháp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 177a, 177b c ng tờ bản đồ số 05a, đất t a lạc tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số bìa BA 450350, số vào s cấp giấy CH00107, ngày cấp là 12/02/2010 và Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số bìa BA 450352, số vào s cấp giấy CH00103, ngày cấp là 12/02/2010. Khi ông C nhận quyền sử dụng đất do cụ M1 để lại, ông T c ng có ký tên để thực hiện thủ tục phân chia th a kế.
Đến năm 2014, ông C làm hợp đồng tặng cho bà Lương Thị Bé M thửa đất số 177a và 177b c ng tờ bản đồ số 05a. Hai thửa đất này được cấp đ i c ng thời điểm làm hợp đồng tặng cho thành thửa đất số 54, tờ bản đồ 61 do bà Lương Thị Bé M đ ng tên quyền sử dụng theo Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số bìa BT 668612, số vào s cấp giấy CH08107, ngày cấp là 11/8/2014.
Tại phiên tòa, anh Trung đại d bị đơn là bà M trình bày:
Bà M không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn là ông Lương Văn T, về việc hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 54, tờ bản đồ số 61 giữa ông C với bà M vào năm 2014 và không đồng ý trả quyền sử dụng đất cho ông T như ông T yêu cầu. Vì bà M cho rằng phần đất này bà M được quyền sử dụng thông qua hợp đồng tặng cho hợp pháp t ông C.
Bà M không ý kiến, khiếu nại hay yêu cầu gì về thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho cụ Lương Văn B trước kia, sang tên t cụ B sang cụ M1, thủ tục sang tên t cụ M1 sang ông C và thủ tục tặng cho t ông C sang bà M, vì thủ tục làm đúng quy định.
Bản chính Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số bìa BT 668612, số vào s cấp giấy CH08107, ngày cấp là 11/8/2014 của bà Lương Thị Bé M đang do bà M giữ, không thế chấp cầm cố tại t ch c cá nhân nào, c ng không là tài sản đảm bảo cho bất kỳ giao dịch dân sự nào. Bà M xác định mình đã xác lập quyền sử dụng đất này khi đã ly hôn chồng c và sống độc thân, nên bà M kh ng định và cam kết quyền sử dụng đất thuộc thửa số 54, tờ bản đồ số 61 là của cá nhân bà M, ngôi nhà có trên đất c ng chỉ do bà M quản lý, sử dụng.
Bà M c ng không yêu cầu gì với ông Lương Văn C trong vụ án này.
Trong quá trình giải quyết vụ án, c ng như tại phiên tòa phía nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất với biên bản thẩm định tại ch ngày 11/5/2021; Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp giữa nguyên đơn Lương Văn T với bị đơn Lương Thị Bé M được đại diện Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ký duyệt ngày 01/6/2021; Biên bản th a thuận giá thửa đất tranh chấp giữa các đương sự ngày 29/6/2023.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện L đề nghị Tòa án xét xử v ng mặt và không có ý kiến yêu cầu gì về nội dung vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng v ng mặt không r lý do. D đã được yêu cầu cung cấp ý kiến và tài liệu ch ng c nhưng ông C đã không có văn bản ý kiến, không gửi tài liệu ch ng c gì.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán chủ t a phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng, còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Văn C không thực hiện theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về việc giải quyết vụ án: Theo tài liệu ch ng c có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tranh tụng tại phiên tòa, xác định ông T yêu cầu bà M trả 404,6m2 t các mốc M5, M11, M12, M9, M10, M7, M4, về M5 (Các mốc được thể hiện theo Sơ đồ đo đạc thực tế phần đất tranh chấp) thuộc một phần thửa đất số 54, tờ bản đồ 61 do bà Lương Thị Bé M; và hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất t ông C sang bà M đối với thửa đất số 54, tờ bản đồ số 61 là không có cơ sở. Căn c các điều 100, 101, 176, 179, 203 Luật đất đai, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên c u các tài liệu, ch ng c có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Lương Văn T yêu cầu bị đơn bà Lương Thị Bé M2 trả lại quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là ông Lương Văn C và bên nhận tặng cho là bà Lương Thị Bé M. T đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết là “Tranh ch p v quy n s d ng đ t và yêu c u hủy h p đ ng t ng cho quy n s d ng đ t” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, được quy định tại các khoản 3, 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ tranh chấp dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Do phần đất tranh chấp quyền sử dụng thuộc một phần thửa đất số số 54, tờ bản đồ số 61 t a lạc tại xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần th hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện L có đơn xin xét xử v ng mặt và ông C v ng mặt không r lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử v ng mặt những người này là ph hợp với quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Khi thụ lý vụ án, và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thay đ i yêu cầu khởi kiện, cụ thể thay đ i diện tích đất tranh chấp để đòi lại quyền sử dụng, việc thay đ i yêu cầu này vẫn nằm trong phạm vi khởi kiện về “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với c ng thửa đất đã được Tòa án thụ lý ngay t đầu.
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có b sung yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Lương Văn C và bà Lương Thị Bé M để đòi lại quyền sử dụng đất thuộc một phần diện tích đất được tặng cho trong hợp đồng v a nêu. Tuy nguyên đơn đưa ra nội dung khởi kiện b sung sau thời điểm Tòa án đã ra quyết định xét xử nhưng vì xác định yêu cầu khởi kiện b sung của nguyên đơn có liên quan đến căn c xem xét yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất của nguyên đơn, nên Tòa án đã hoãn phiên tòa để thụ lý b sung yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn để đảm bảo việc đánh giá ch ng c và giải quyết vụ án một cách toàn diện.
Về nội dung:
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng và hiện trạng phần đất tranh chấp các đương sự đều thống nhất ý kiến. Các đương sự c ng thống nhất không ý kiến, khiếu nại hay yêu cầu gì về thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho cụ Lương Văn B trước kia, thủ tục sang tên t cụ B sang cụ M1, và thủ tục sang tên t cụ M1 sang ông C, vì thủ tục làm đúng quy định. Nội dung thống nhất của các đương sự phù hợp với tài liệu, ch ng c do Tòa án thu thập được. T đó xác định các tình tiết sau đây là có thật:
- Về nguồn gốc phần đất tranh chấp hiện nay thuộc thửa đất số 54, tờ bản đồ số 61 do ông bà để lại cho cụ Lương Văn B quản lý sử dụng t trước năm 1975 đến năm 1987. Khi cụ B chết, vợ cụ B là cụ M1 kê khai được cấp quyền sử dụng, và trực tiếp quản lý sử dụng. Đến năm 2009, cụ M1 chết, ông Lương Văn C được nhận quyền sử dụng theo thủ tục phân chia di sản th a kế t cụ M1. Ngày 12/02/2010, ông C được Ủy ban nhân dân huyện L cấp quyền sử dụng đất theo hai Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất số bìa BA 450352, số vào s cấp GCN: CH00103 đối với thửa đất số 177b, tờ bản đồ 05a và Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất số bìa BA 450353, số vào s cấp GCN: CH00107 đối với thửa đất số 177a, tờ bản đồ 05a.
Ngày 18/7/2014, ông Lương Văn C đã giao kết hợp đồng tặng cho với bà Lương Thị Bé M đối với quyền sử dụng hai thửa đất 177a, 177b c ng tờ bản đồ số 05a, hợp đồng được ch ng thực theo quy định. Đến 11/8/2014, bà M được đ ng tên quyền sử dụng đất đối với phần đất được tặng cho theo hợp đồng đã nêu và được đồng thời được cấp đ i thành thửa đất 54, tờ bản đồ 61, diện tích 1.386,5m2 (đất ở 300m2, đất trồng cây lâu năm 1.086,5m2), do Ủy ban nhân dân huyện L cấp quyền sử dụng cho bà Lương Thị Bé M theo Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất số bìa BT 668612, số vào s cấp GCN: CH08107, ngày 11/8/2014.
- Hiện trạng và quá trình sử dụng phần đất tranh chấp:
Căn c kết quả xem xét thẩm định tại ch ngày 11/5/2021 của Tòa án, được thể hiện theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 96/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký duyệt ngày 01/6/2021, và yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn tại phiên tòa, xác định phần đất tranh chấp có diện tích 404,6m2 t các mốc M5, M11, M12, M9, M10, M7, M4, về M5 thuộc một phần thửa đất số 54, tờ bản đồ số 61.
Trên diện tích 404,6m2 đất tranh chấp, trước kia có ngôi nhà g của gia đình cụ B, cụ M1 sinh sống c ng các con của hai cụ như ông T, ông C, bà M. Khi hai cụ lần lượt qua đời, các con của hai cụ vẫn tiếp tục sinh sống trong căn nhà này. Sau đó, ông C, bà M lần lượt có gia đình ra riêng, còn vợ chồng ông T sinh sống trong ngôi nhà này đến năm 2018, thì ông T di dời căn nhà về huyện V, thành phố Cần Thơ để sinh sống n định. T đó đến nay, trên diện tích đất tranh chấp không có nhà cửa, vật kiến trúc gì có giá trị. Khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại ch vào ngày 11/5/2021, xác định trên phần đất 404,6m2 t các mốc M5, M11, M12, M9, M10, M7, M4, về M5 có chuồng heo c không ai sử dụng và một số cây trồng không ai chăm sóc thu hoạch. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thống nhất không tranh chấp yêu cầu gì đối với những tài sản này. Tại phiên tòa các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến và thống nhất xác định hiện trạng phần đất tranh chấp không có gì thay đ i so với hiện trạng được ghi nhận trong Biên bản thẩm định của Tòa án ngày 11/5/2021 (có sơ đồ đo đạc kèm theo) và cam kết không làm thay đ i hiện trạng đất tranh chấp cho đến khi thi hành xong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật giải quyết vụ án này. .ánán. này.
Về hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/7/2014, giữa người tặng cho là ông Lương Văn C với người được tặng cho là bà Lương Thị Bé M đối với quyền sử dụng hai thửa đất sô 177a, 177b c ng tờ bản đồ số 05a. Hợp đồng đã được ch ng thực theo quy định; khi giao kết hợp đồng tặng cho này ông C, bà M đều đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; quyền sử dụng đất là đối tượng tặng cho trong hợp đồng là của ông C được đ ng tên hợp pháp nên ông C có đầy đủ các quyền của người sử dụng đất, trong đó có quyền được thực hiện việc tặng cho; và mục đích, nội dung của giao dịch dân sự nêu trên không vi phạm điều cấm của luật c ng như không trái đạo đ c xã hội. T đó, xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/7/2014 đã đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự và th a điều kiện của Luật đất đai, nên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/7/2014 được công nhận và pháp luật bảo vệ. Ông C và bà M đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, bà M đã được đ ng tên quyền sử dụng đất, ông C c ng đã giao đất cho bà M quản lý sử dụng t năm 2014 đến nay. T đó xác định hợp đồng tặng cho này đã thực hiện xong.
Xét yêu cầu nguyên đơn
Ông T không ý kiến, khiếu nại hay yêu cầu gì về thủ tục cấp quyền sử dụng đất cho cụ Lương Văn B, thủ tục sang tên t cụ B sang cụ M1, vì thủ tục làm đúng quy định. Ông T th a nhận có ký tên để thực hiện thủ tục cho ông C nhận di sản t cụ M1 đối với phần đất hiện là thửa 54, tờ bản đồ số 61, và xác định thủ tục sang tên t cụ M1 sang ông C là hợp pháp.
Nguyên đơn là ông T yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất t ông C sang bà M đối với thửa đất số 54, tờ bản đồ số 61. Đồng thời yêu cầu bà M trả cho ông T diện tích đất là trả 404,6m2 t các mốc M5, M11, M12, M9, M10, M7, M4, về M5 (Các mốc được thể hiện theo Sơ đồ đo đạc thực tế phần đất tranh chấp) thuộc một phần thửa đất số 54, tờ bản đồ 61 do bà Lương Thị Bé M đ ng tên quyền sử dụng đất.
Để ch ng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, nguyên đơn đã đưa ra căn c là di nguyện của cụ M1. Cụ thể, cụ M1 muốn chia thửa đất số 54, tờ bản đồ số 61 thành hai phần cho ông C và ông T. Nhưng tại thời điểm th a thuận phân chia th a kế t cụ M1, có quy định về hạn m c tách thửa nên không thể thực hiện thủ tục phân chia thửa đất 54 theo di nguyện của cụ M1 được. Ông T th a thuận với ông C sẽ giao ông C đ ng tên cả thửa, nhưng phần đất mẹ h a cho mình thì vẫn thuộc phần của ông T. Để ch ng minh cho nội dung này, nguyên đơn có cung cấp lời trình bày của các ông Lương Văn H, ông Đặng Văn C1, ông Nguyễn Văn M3 là anh ruột, anh rễ của ông T, ông C, bà M. Nguyên đơn xác định, khi thực hiện thủ tục phân chia di sản tại Ủy ban xã, chỉ được hướng dẫn miệng và biết là không thực hiện chia phần đất này để ông T và ông C được đ ng tên riêng, nên không kiên quyết nộp hồ sơ đề nghị. Vì thế, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên xác định không thể nộp ch ng c để ch ng minh cho việc ông C đ ng tên d m ông T một phần thửa đất này.
Sau khi xem xét nội dung trình bày của ông H, ông C1 và ông M3, nhận thấy đây là lời trình bày mang tính chất chủ quan, không được phía bị đơn th a nhận, và không ph hợp với các ch ng c khách quan trong hồ sơ vụ án; Đồng thời, phía nguyên đơn c ng như ông H, ông C1, ông M3 đã không cung cấp được tài liệu, ch ng c mang tính chất khách quan để ch ng minh cho nội dung trình bày của mình.
Do hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/7/2014 giữa ông C với bà M có hiệu lực pháp luật đã thực hiện xong. Ông C và bà M không có ý kiến tranh chấp về việc các điều kiện để hủy hợp đồng tặng cho này và nội dung hợp đồng này c ng không có th a thuận về việc phát sinh quyền, nghĩa vụ với người th ba. Ông T cho rằng việc ông C cố tình tặng cho bà M cả thửa đất, có cả phần đất của ông T được cụ M1 h a cho là xâm phạm quyền của ông T; và đưa ra lý do về việc ông T không tranh chấp gì khi ông C làm hợp đồng tặng cả phần đất đ ng tên d m mình cho bà M là do ông T hoàn toàn không hay biết sự việc tặng cho này. Chỉ sau khi phát sinh tranh chấp với ông C vào năm 2015 thì ông T mới biết sự việc. Lời trình bày của phía nguyên đơn không ph hợp với nội dung tài liệu ch ng c có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể, theo hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất t C sang M vào năm 2014, tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 17/7/2014 của đơn vị đo đạc có thể hiện việc ông T ký tên với tư cách người giáp ranh (vì T còn phần đất phía sau thửa đất 54, tờ bản đồ số 61), vậy nên việc ông T cho rằng mình không hay biết sự việc tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa 54 giữa ông C và bà M là không có cơ sở.
T những nhận định trên, xác định ông T yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/7/2014 giữa ông C với bà M, để yêu cầu bà M phải trả lại diện tích đất tranh chấp là không có cơ sở.
Lời trình bày và nội dung tranh luận của bị đơn là có cơ sở.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lương Văn C đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu ch ng c kèm theo; c ng như được tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng, thông báo kết quả phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ng c và hòa giải; được thông báo yêu cầu b sung tài liệu, ch ng c là ý kiến của ông C về nội dung vụ án. Tuy nhiên, ông C không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án, tham gia phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai ch ng c và hòa giải, c ng như v ng mặt không r lý do tại phiên tòa xét xử sơ thẩm lần th nhất, và phiên tòa hôm nay; Tòa án c ng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của ông C về nội dung vụ án, vì vậy xem như ông C đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, nên ông C phải chịu m i hậu quả pháp lý phát sinh.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên ph hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.
Về chi phí tố tụng: Gồm chi phí xem xét thẩm định tại ch đã chi là 3.343.000 đồng (Ba triệu, ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Do phía nguyên đơn ông Lương Văn T có yêu cầu xem xét thẩm định tại ch để giải quyết tranh chấp và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận, nên nguyên đơn có nghĩa vụ phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại ch .
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn c vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 20/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn ông Lương Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn bà Lương Thị Bé M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo thực hiện theo quy định tại các điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 117, 133, 401, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự; Các điều 100, 101, 166, 167, 179, 203 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Văn T về việc: buộc bị đơn bà Lương Thị Bé M trả lại diện tích đất do cha mẹ ông T cho là 404,6m2 được thể hiện các mốc t M5, M11, M12, M9, M10, M7, M4, về M5 thuộc một phần thửa đất số 54, tờ bản đồ 61, t a lạc tại xã B, huyện L, Đồng Tháp được Ủy ban nhân dân huyện L cấp quyền sử dụng cho bà Lương Thị Bé M theo Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác g n liền với đất số bìa BT 668612, số vào s cấp GCN: CH08107, ngày 11/8/2014; Và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/7/2014, giữa ông Lương Văn C với bà Lương Thị Bé M.
(Các điểm mốc nêu trên được thể hiện theo biên bản xem xét thẩm định tại ch ngày 11/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò và sơ đồ đo đạc số 96/SĐ.ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai ký duyệt ngày 01/6/2021).
2. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn ông Lương Văn T phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại ch là 3.343.000 đồng (Ba triệu, ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ng và đã chi xong.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lương Văn T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.323.000 đồng (Hai triệu, ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) được khấu tr vào số tiền tạm ng án phí đã nộp là 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) theo các Biên lai nộp tiền tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số 0009986, ngày 18/01/2021; số 0013619, ngày 26/8/2022; số 0003801, ngày 25/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L. Ông T còn phải nộp thêm 1.423.000 đồng (Một triệu, bốn trăm hai mươi ba nghìn đồng).
4. Các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án; Các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự v ng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a , 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện L; - CC.THADS huyện L; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Thị Mỹ Xuân |