- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Trung Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2022/HSST Ngày 23-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà: Triệu Thị Yên.
Nghề nghiệp: Cán bộ Ban Dân vận Huyện C.
- Bà Tưởng Thị Thu.
Nghề nghiệp: Nguyên Cán bộ phòng giáo dục huyện C.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Vân, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện C.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân H4ện C tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận, Kiểm sát viên VKSND huyện Chiêm.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2022/TLST - HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2022/QĐXXST - HS ngày 12/12/2022, đối với bị cáo:
* Bị cáo: Triệu Trung Đ, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 07/12/2007; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N 1, xã Y, Huyện C, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Hoa; Tôn Giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Học sinh; con ông: Triệu Văn K, sinh năm 1972; con bà: Lâm Thị H, sinh năm 1982; Anh chị em ruột: Có 02 người; bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang được giao cho người đại diện giám sát. (Có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Ông Triệu Văn K, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn N 1, xã Y, Huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Triệu Trung Đ: Bà Vũ Thanh Thủy -Trợ giúp viên pháp lý - Công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tuyên Quang (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Anh Đinh Tuyên H3, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Thôn H1 2, xã Y, Huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan:
- Bà H3 Thị L, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn H1 2, xã Y, Huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
- Anh Đinh Công H4, sinh năm 2004, do ông Đinh Văn P - Bố đẻ- làm đại diện theo pháp luật
Cùng địa chỉ: Thôn H1 2, xã Y, Huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Có mặt tại phiên tòa).
- Anh Lâm Quang T, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Thôn V, xã Y, Huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Nông Việt H3, sinh năm 2003.
Địa chỉ: Thôn B, xã Y, Huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt tại phiên tòa).
* Đại diện Trường THPT H2, Huyện C, tỉnh Tuyên Quang: Bà Nguyễn Ánh T1
- Giáo viên (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 01/02/2022 Triệu Trung Đ, sinh ngày 07/12/2007, trú tại thôn N 1, xã Y, Huyện C mượn xe mô tô biển số 22B2-711.59 của Lâm Quang T, sinh năm 1999, trú thôn V, xã Y, Huyện C để đi chơi. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn Đồng Vàng, xã Y, Huyện C thì bị Đinh Công H4, sinh năm 2004, trú tại thôn H1 2, xã Y, Huyện C điều khiển xe mô tô biển số 22K3 - 9062 chở theo Đinh Tuyên H3, sinh năm 2003, trú cùng thôn (là anh trai ruột của H4) ngồi phía sau đi ngược chiều chặn đường (do trước đó H3 cho rằng Đ hay tạt đầu xe mô tô của H3). Lúc này H3 xuống xe tiến về phía Đ dùng tay phải đấm vào vùng đầu của Đ và dùng chân phải đạp L tiếp 03 đến 04 lần vào xe mô tô do Đ điều khiển. Bị đánh Đ nói “Hai chúng mày lên cổng cấp 2 gặp tao” rồi điều khiển xe bỏ chạy. Sau đó Đ về gặp T và kể lại T bộ sự việc cho T nghe, thấy vậy T nói với Đ đi đến khu vực ngã ba thuộc thôn Y1, xã Y, H4ện C để chờ gặp H4 và H3 mục đích để nói chuyện.
Khoảng 16 giờ cùng ngày, H4 điều khiển xe mô tô chở H3 khi đi qua khu vực ngã ba thuộc thôn Y1, xã Y, Huyện C thì nhìn thấy Đ, T đang đứng chờ, thấy vậy H3 xuống xe đi đến đứng đối diện với T để nói chuyện. Lúc này Đ đứng phía sau T, do bực tức về việc trước đó bị H3 đánh nên Đ liền dùng tay phải nhặt 01 viên gạch bi bằng xi măng (kích thước 12cm x 11cm x 10cm) ở lề đường, khi cách H3 khoảng 03 (ba) mét, Đ ném viên gạch về phía người H3 mục đích để gây thương tích thì trúng vào vùng đầu phía bên phải của H3. Sau đó H3 bị ngất và mọi người đưa đi cấp cứu tại cơ sở y tế, còn Đ và T đi về nhà.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 50/2022/TgT ngày 31/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang, kết luận đối với Đinh Tuyên H3: (1) Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo phẫu thuật vùng đầu kích thước như mô tả: 3%; Tụ máu ngoài màng cứng hiện không còn hình ảnh trên phim: 5%; Ổ khuyết xương sọ kích thước như mô tả đã được vá bằng mảnh xương: 26%. (2) Cơ chế, vật gây thương tích: Thương tích như trên là do vật tày tác động trực tiếp gây nên. (3) Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 32% (Ba mươi hai phần trăm) theo phương pháp cộng tại thông tư.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích (Kết luận giám định lại Lần 1) số 2559/KL-KTHS ngày 21/6/2022 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an, kết luận đối với Đinh Tuyên H3: (1) Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể: Sẹo phẫu thuật vùng trán
- đỉnh - thái dương phải, kích thước lớn: 3%; Sẹo dẫn lưu vùng thái dương - đỉnh phải, kích thước nhỏ: 1%; Ổ khuyết xương sọ vùng thái dương - đỉnh phải, đường kính 8cm, đáy chắc: 26%; Máu tụ ngoài màng cứng vùng thái dương - đỉnh phải, không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh: 5%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Tuyên H3 tại thời điểm giám định lại là 32 % (Ba mươi hai phần trăm). (2) Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương vùng đầu của Đinh Tuyên H3 do vật tày gây ra.
Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 90/CT-VKSCH ngày 08/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân H4ện C truy tố bị cáo Triệu Trung Đ về tội "Cố ý gây thương tích", theo quy định tại điểm c (thuộc trường hợp điểm a khoản 1 Điều 134- dùng hung khí nguy hiểm) khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Trung Đ tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra, không phát sinh tình tiết mới. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:
- Về tội danh: Đề nghị tuyên bị cáo Triệu Trung Đ phạm tội " Cố ý gây thương tích".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c (thuộc trường hợp điểm a khoản 1 Điều 134 –dùng hung khí nguy hiểm) khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Các Điều 90, 91, 98, 101, 65; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông nội là Triệu Quang M, bà nội là HoàngThị L tham gia dân công hỏa tuyến, ông cụ ngoại là Lâm Quang N được tặng Bằng khen đã có thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp xâm lược” Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Triệu Trung Đ từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 05 (năm) năm. Hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Y, Huyện C quản lý theo quy định.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590, 599, 357, 468 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo bồi thường định theo quy định của pháp luật. Gia đình bị cáo đã nộp 8.000.000đ tiền tạm thu chờ xử lý tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện C theo biên lai thu tiền số AA/2021/0002701 ngày 28/11/2022, nay đề nghị chuyển thành tiền bồi thường, trừ đi số tiền này cùng số tiền 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng) gia đình bị cáo đã bồi thường.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tiêu hủy 01 (Một) viên gạch bi bằng xi măng đã bị vỡ, màu xám (kích thước 12cm x 11cm x 10cm).
Ngoài ra đề nghị HĐXX miễn T bộ án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch và tuyên quyền kháng cáo bản án của bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan theo quy định tại các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tại phiên tòa bị cáo Triệu Trung Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi cố ý gây thương tích, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Đinh Tuyên H3 yêu cầu bị cáo Triệu Trung Đ- do ông Triệu Văn K làm đại diện- bồi thường số tiền 84.847.000 đồng (Tám mươi tư triệu tám trăm bốn mươi bảy nghìn đồng). Trong đó: Tiền thuốc có hóa đơn là 25.467.000đ; Tiền công chăm sóc bị hại từ ngày 01/02/2022 đến 11/02/2022 của 02 người (200.000đ/ngày/người X 02 người X 11 ngày) là 4.400.000đ; Tiền công chăm sóc ở nhà từ ngày 12/02/2022 đến ngày 30/5/2022 (200.000đ/ngày/người X 01 người X 108 ngày) là 21.600.000đ; Tiền bồi dưỡng sức khỏe sau thương tích là 30.000.000đ; Tiền thuê xe taxi đưa đón đi viện có biên nhận là 3.380.000đ. Trừ đi số tiền đã bồi thường 12.000.000đ và số tiền 8.000.000đ tạm thu chờ xử lý tại Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện C, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền tiền 64.847.000 đồng (Sáu mươi tư triệu tám trăm bốn mươi bảy nghìn đồng)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan bà H3 Thị L công nhận đã nhận của gia đình bị cáo số tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị hại là 12.000.000đ.
Người làm chứng anh Đinh Công H4 - do ông Đinh Văn P làm đại diện, khai giống như lời khai tại cơ quan điều tra.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Các Điều 90, 91, 98, 101, 65; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông nội là Triệu Quang M, bà nội là Hoàng Thị L tham gia dân công hỏa tuyến, ông cụ ngoại là Lâm Quang N được tặng Bằng khen đã có thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp xâm lược” Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Triệu Trung Đ hưởng mức phạt thấp nhất như Viện kiểm sát đề nghị. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Triệu Trung Đ đã bồi thường cho bị hại Đinh Tuyên H3 số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) và đã nộp 8.000.000đ tiền tạm thu chờ xử lý tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện C theo biên lai thu tiền số AA/2021/0002701 ngày 28/11/2022 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 584, 585, 586, 590, 599 Bộ luật Dân sự quyết định theo quy định. Đề nghị miễn T bộ án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo do bị cáo là trẻ em.
Đại diện trường THPT H2 nơi bị cáo đang theo học đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất như Viện kiểm sát đề nghị để tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục được học tập tại trường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, T diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Huyện C xét thấy:
1. Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên và Cơ quan điều tra Công an Huyện; Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân Huyện, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về áp dụng pháp luật về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Triệu Trung Đ có hành vi gây thương tích cho bị hại Đinh Tuyên H3 vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 01/02/2022.
Ngày 24/3/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định tổn hại phần trăm sức khỏe đối với bị hại, ngày 17/8/2022 ông Triệu Văn K – người đại diện theo pháp luật của bị cáo có đơn từ chối giám định sức khỏe đối với bị cáo.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 50/2022/TgT ngày 31/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích (Kết luận giám định lại Lần 1) số 2559/KL-KTHS ngày 21/6/2022 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an, kết luận đối với Đinh Tuyên H3: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Tuyên H3 tại thời điểm giám định lại là 32 % (Ba mươi hai phần trăm). (2) Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương vùng đầu của Đinh Tuyên H3 do vật tày gây ra.
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Trung Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp nội dung kết luận điều tra và nội dung Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 01/02/2022, tại thôn Y1, xã Y, Huyện C, do mâu thuẫn cá nhân, Triệu Trung Đ, sinh ngày 07/12/2007 (tính đến ngày 01/02/2022 là 14 tuổi, 01 tháng, 25 ngày tuổi), trú tại thôn N 1, xã Y, H4ện C, tỉnh Tuyên Quang có hành vi dùng tay phải cầm 01 viên gạch bi bằng xi măng, kích thước 12cm x 11cm x 10cm ném trúng vào vùng đầu phía bên phải của Đinh Tuyên H3, sinh năm 2003, trú tại thôn H1 2, xã Y, Huyện C, gây thương tích tổn hại 32% (Ba mươi hai phần trăm) sức khỏe. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện C truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
3. Về tính chất của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo:
- Về tính chất của hành vi phạm tội: Bị cáo chưa có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo dùng hung khí gây thương tích tại vùng đầu của bị hại, tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định mục đích bị cáo hướng đến không phải là tính mạng của bị hại; sau khi gây thương tích cho bị hại, thì bị cáo đã tự chấm dứt hành vi phạm tội.
- Về tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
+ Tình tiết tăng nặng: Không có.
+ Tình tiết giảm nhẹ: Giai đoạn điều tra, truy tố cho đến khi bị xét xử tại phiên tòa bị cáo Triệu Trung Đ đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông nội là Triệu Quang M, bà nội là Hoàng Thị L tham gia dân công hỏa tuyến, ông cụ ngoại là Lâm Quang N được tặng Bằng khen đã có thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp xâm lược đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
- Về hình phạt: Bị cáo là người còn hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự, chưa nhận thức được việc gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, tuy nhiên cáo Triệu Trung Đ, sinh ngày 07/12/2007, khi phạm tội vào ngày 01/02/2022 bị cáo được 14 tuổi, 01 tháng, 25 ngày tuổi, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, được áp dụng các Điều 90, 91, 98 và khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, cho bị cáo hưởng mức hình phạt khởi điểm như đề nghị của Viện kiểm sát, người đại diện theo pháp luật của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo, đại diện nhà trường đề nghị là phù hợp.
Bị cáo chưa thành niên, còn hạn chế về nhận thức, bị hại có một phần lỗi nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự khi lượng hình cho bị cáo hưởng án treo như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, để bị cáo có cơ hội sửa chữa và học tập, bị cáo phải chịu thời gian thử thách theo quy định.
4. Về trách nhiệm dân sự:
Yêu cầu của bị hại có căn cứ chấp nhận vì: Bị cáo Triệu Trung Đ có hành vi gây thương tích cho bị hại Đinh Tuyên H3, bị cáo Đ đã thừa nhận có được dùng tay phải cầm gạch ném trúng đầu bị cáo H3, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 50/2022/TgT ngày 31/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích (Kết luận giám định lại Lần 1) số 2559/KL-KTHS ngày 21/6/2022 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an, kết luận đối với Đinh Tuyên H3: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Tuyên H3 tại thời điểm giám định là 32 % (Ba mươi hai phần trăm).
Bác yêu cầu bồi thường đối với khoản tiền 8.993.300đ có hóa đơn, giấy biên nhận bao gồm các khoản sau: Hóa đơn bán hàng ngày 05/6/2022 số tiền 1.300.000đ (BL 115); Hóa đơn bán lẻ ngày 26/6/2022 số tiền 1.600.000đ (BL 116), Hóa đơn bán lẻ ngày 25/3/2022 số tiền 1.450.000đ (BL 117); Hóa đơn bán hàng ngày 13/02/2022 số tiền 2.250.000đ (BL 124), Hóa đơn bán hàng ngày 03/5/2022 số tiền 522.000đ (BL 126), Chụp XQuang ổ bụng ngày 30/5/2022 số tiền 65.400đ (BL 127); Siêu âm ổ bụng ngày 30/5/2022 số tiền 43.900đ (BL 129); Chụp CT Scanner số tiền 522.000đ (BL 138); Tiền thuê taxi ngày 25/3/2022 đi lấy kết quả chụp chiếu số tiền 820.000đ (BL 140); Tiền thuê taxi ngày 30/5/2022 đi bệnh viện đa khoa C số tiền 420.000đ (BL 141) do thuê xe taxi khi đã đủ điều kiện đi bằng phương tiện giao thông công cộng, mua sữa uống sau khi ra viện, bị đánh vào đầu nhưng đi khám ổ bụng, đi kiểm tra lại đầu vào ngày 30/5/2022, những khoản tiền này được tính vào khoản tiền phục hồi sức khỏe sau điều trị.
Bác một phần yêu cầu bồi thường đối với khoản tiền do mất công lao động của người chăm sóc, tiền phục hồi sức khỏe sau điều trị, tiền công chăm sóc ở nhà.
Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590, 599, 357, 468 Bộ Luật Dân sự Bộ luật Dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường của bị hại H3, các khoản chấp nhận như sau:
- Tiền viện phí có hóa đơn chứng từ và giấy tờ biên nhận tổng số tiền là: 19.855.940,2đ (Mười chín triệu tám trăm năm mươi năm nghìn chín trăm bốn mươi phảy hai đồng).
Các hóa đơn, chứng từ cụ thể như sau: 05 hóa đơn bán hàng (từ BL 118 đến BL 122) số tiền 6.624.336,2đ; đơn thuốc ngày 11/02/2022 số tiền 1.590.000đ (BL 125); Hóa đơn bán hàng ngày 01/02/2022 số tiền 556.500đ; Hóa đơn bán hàng ngày 01/02/2022 số tiền 275.104đ (BL 130); 02 bảng kê chi phí nội trú số tiền 3.060.000đ (BL 131 đến 132 và 136, 137); 03 phiếu xuất hàng số tiền 5.610.000đ (Từ BL 133 đến BL 135); tiền thuê xe taxi ngày 01/02/2022, ngày 11/02/2022, ngày 24/3/2022 số tiền là: 2.140.000đ (BL 139, 142, 143).
- Tiền công người chăm sóc trong thời gian điều trị tại bệnh viện 11 ngày x 200.000 đồng/ngày/người = 2.200.000 đồng.
- Tiền công chăm sóc ở nhà 14 ngày (trong thời gian hẹn khám lại của giấy ra viện) X 200.000/01 người = 2.800.000đ.
- Tiền tổn thất tinh thần tương đương 15 tháng lương tối thiểu là 22.350.000 đồng.
- Tiền phục hồi sức khỏe sau điều trị tương đương 10 tháng lương tối thiểu là 14.900.000 đồng.
Tổng số tiền cần chấp nhận là 62.105.940,2đ.
Hội đồng xét xử thấy rằng nguyên nhân dẫn đến bị cáo đánh bị hại là do bị hại đánh bị cáo trước, tuy nhiên Triệu Trung Đ có lỗi về trách nhiệm hình sự, Đinh Văn H3 là lỗi vi phạm hành chính, mức độ lỗi của Triệu Trung Đ cao hơn lỗi của Đinh Tuyên H3, Hội đồng xét xử xác định bị cáo khi phạm tội chưa đủ 15 tuổi nên ông Triệu Văn K phải bồi thường tương đương 80% lỗi, bị hại phải chịu 20% lỗi.
Tổng số tiền buộc ông Triệu Văn K phải bồi thường là 62.105.940,2đ X 80% = 49.684.752,16đ. Gia đình bị cáo đã bồi thường 12.000.000đ, ông Triệu Văn K đã nộp 8.000.000đ tiền tạm thu chờ xử lý tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện C theo biên lai thu tiền số AA/2021/0002701 ngày 28/11/2022, nay được chuyển thành tiền bồi thường, ông Triệu Văn K phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Đinh Tuyên H3 số tiền 29.684.752,16đ
Ông Triệu Văn K phải chịu trách nhiệm về việc chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo quy định của pháp luật.
5. Vật chứng L quan đến vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tiêu hủy 01 (Một) viên gạch bi bằng xi măng đã bị vỡ, màu xám (kích thước 12cm x 11cm x 10cm).
6. Các vấn đề khác:
Đối với hành vi đánh nhau của bị hại Đinh Tuyên H3 đã bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo Triệu Trung Đ từ chối giám định thiệt hại về sức khỏe nên Hội đồng xét xử không xem xét.
7. Về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo:
- Căn cứ Điều Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm đ, Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016 -UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH khóa 14; Bị cáo là trẻ em nên được miễn T bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định.
- Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 134; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 47, 48, 90, 91, 98, 101, 65 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590, 599, 357, 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Triệu Trung Đ phạm tội "Cố ý gây thương tích".
- Xử phạt: Bị cáo Triệu Trung Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm.
Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/12/2022).
Giao bị cáo Triệu Trung Đ cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời hạn thử thách, nếu người được hưởng án treo có ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt cuả bản án trước và tổng hợp với hình phạt tù của bản án mới theo quy định. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị hại Đinh Tuyên H3 đối với bị cáo Triệu Trung Đ - do ông Triệu Văn K - bố đẻ, làm đại diện.
Bác yêu cầu bồi thường đối với khoản tiền 8.993.300đ có hóa đơn, giấy biên nhận. Bác một phần yêu cầu bồi thường đối với khoản tiền do mất công lao động của người chăm sóc, tiền phục hồi sức khỏe sau điều trị, tiền công chăm sóc ở nhà.
Buộc ông Triệu Văn K phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Đinh Tuyên H3 số tiền 49.684.752,16đ (Bốn mươi chín triệu sáu trăm tám mươi tư nghìn bảy trăm năm mươi hai phẩy mười sáu đồng). Trừ đi số tiền gia đình bị cáo Triệu Trung Đ đã bồi thường trước là 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng), ông Triệu Văn K đã nộp 8.000.000đ tiền tạm thu chờ xử lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C theo biên lai thu tiền số AA/2021/0002701 ngày 28/11/2022, nay được chuyển thành tiền bồi thường, ông Triệu Văn K phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Đinh Tuyên H3 số tiền 29.684.752,16đ (Hai mươi chín triệu sáu trăm tám mươi tư nghìn bảy trăm năm mươi hai phẩy mười sáu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Vật chứng liên quan đến vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) viên gạch bi bằng xi măng đã bị vỡ, màu xám (kích thước 12cm x 11cm x 10cm), không rõ hình.
Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 10 tháng 11 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an H4ện C và Chi cục Thi hành án dân sự H4ện C.
4. Về án phí: Bị cáo Triệu Trung Đ được miễn T bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Bị hại Đinh Tuyên H3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh TQ; - VKSND huyện CH; - Cơ quan ĐT CA huyện CH; - Cơ quan THAHS CA huyện CH; - Chi cục THADS huyện CH; - PhònG HSNV, CA tỉnh TQ; - Bị cáo;Những người tham gia tố tụng; - UBND xã Y; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA P1ÊN TÒA Đào Thị Bích Ngọc |