vanban.org

Bản án 95/2022/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 24/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh T.

Không chấp nhận kháng cáo của người đ i diện hợp pháp của bị h i là ông Ngô ức V. Không chấp nhận Quyết định kháng nghị ph c thẩm số 29/Q -VC2 ngày 25-11-2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao t i à Nẵng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh T.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng h nh s; Bộ luật H nh s
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2022/HSPT
Ngày 24-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Cường.

ác thẩm phán:

Ông Nguyễn Tấn Trường.

Ông Đặng Kim Nhân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao t i à Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nh n d n c p cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Nam Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24-3-2022, t i trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị. Tòa án nhân dân cấp cao t i à Nẵng xét xử ph c thẩm công khai vụ án h nh s thụ lý số 554/2021/TLPT-HS ngày 07-12-2021 đối với bị cáo Lê Thanh T, do có kháng cáo của bị cáo, kháng cáo của đ i diện hợp pháp của bị h i và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao t i à Nẵng đối với Bản án h nh s sơ thẩm số 39/2021/HS-ST ngày 26-10-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Bị cáo kháng cáo và bị kháng cáo, kháng nghị:

Lê Thanh T (tên gọi khác: Cu em s n), sinh ngày 18-7-1991 t i Quảng Trị; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Khu phố 1, Phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên Ch a giáo; giới tính: Nam; tr nh độ văn hoá: 11/12; nghề nghiệp: Kinh doanh t do; con ông Lê C, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968; vợ là ặng Thị H, sinh năm 1994 và có 01 con; tiền án; tiền s : Không.

Nhân thân: Ngày 29-7-2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử ph t 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Chấp hành xong bản án ngày 09-4-2015).

Ngày 11-9-2009, bị Công an thị xã Q xử ph t vi ph m hành chính 350.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Ngày 14-12-2015, bị Công an thị xã Q xử ph t vi ph m hành chính 750.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Ngày 14-11-2017, bị Công an thành phố xử ph t vi ph m hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm h i đến sức khỏe của người khác”.

Ngày 15-5-2020, bị Công an thành phố xử ph t vi ph m hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm h i đến sức khỏe của người khác”.

Ngày 01-9-2021, bị Công an tỉnh Quảng Trị xử ph t vi ph m hành chính 3.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng các lo i vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép”.

Bị cáo bị bắt ngày 11-6-2021, hiện đang t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Quảng Trị, có mặt t i phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo:

Ông Ngô Đức V, sinh năm 1963 (là bố bị h i); địa chỉ cư tr : Khu phố 2, Phường Y1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt t i phiên tòa.

Người tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị:

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Khánh T1 - Văn phòng Luật sư T2, thuộc oàn Luật sư tỉnh Quảng Trị; địa chỉ: Nhà số 117B đường H1, thành phố , tỉnh Quảng Trị, có mặt t i phiên tòa.

- Bị hại: Anh Ngô Đức H2, sinh năm 1985 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Ngô Đức V, sinh năm 1963 (là bố bị h i); địa chỉ cư tr : Khu phố 2, Phường Y1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt t i phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ngô Đức V:

Luật sư Trần Thị D và Luật sư Lê Văn C - Công ty Luật hợp danh F; địa chỉ: Nhà số 99 đường N1, quận H3, thành phố à Nẵng, đều có mặt t i phiên tòa.

2. Bà Đặng Thị Lệ X, sinh năm 1966 (là mẹ bị h i); địa chỉ cư tr : Khu phố 2, Phường Y1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt t i phiên tòa.

3. Cháu Ngô Thị Ngọc Ch, sinh ngày 25-4-2007 (là con bị h i).

Người diện hợp pháp của cháu h: Chị Nguyễn Thị Ngọc P1, sinh năm 1987(là mẹ cháu Ch); địa chỉ cư tr : Khu phố 2, Phường Y1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt t i phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị ặng Thị H3, sinh năm 1994; địa chỉ cư tr : Khu phố 1, Phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt t i phiên tòa.

2. Anh Lê Thanh T2, sinh năm 1989; địa chỉ cư tr : Khu phố 1, Phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 10-6-2021, Lê Thanh T điều khiển xe ô tô hiệu Huyndai Tucson đến quán cà phê B1 của anh Ngô ức H2 (t i số 86 ường L1, thị xã Q) th gặp anh H2, cùng các anh Nguyễn Anh T3, Võ Lâm B1, Phan Thanh S, Phan Thanh L2, Võ Minh T4 và chị Trần Thị Như Q2 đang ngồi ăn và uống bia t i sân quán, nên T vào tham gia.

Trong l c ăn uống, anh Võ Lâm B1 cho biết chị Q2 là em gái của anh Trần nh S1 (b n T), nên T khuyên chị Q2 đi về nhà. Anh H2 nói với T để cho chị Q2 ở l i chơi, nhưng T không đồng ý và yêu cầu chị Q2 phải đi về ngay. Nghe vậy, chị Q2 đi vào trong quán, còn anh H2 và T có lời qua tiếng l i rồi điều khiển xe ô tô rời khỏi quán. Trên đường đi, T nhận được tin nhắn đề nghị không can thiệp vào chuyện t nh cảm của anh H2, nên giữa T và anh H2 có nhiều tin nhắn qua l i. Cho rằng, v một người phụ nữ mà anh H2 không coi trọng m nh, nên sau khi đi lòng vòng trên các tuyến đường, T điều khiển xe ô tô quay l i quán cà phê B1. L c này, chỉ còn các anh H2, T3, B1, T4, S và L2 đang ngồi ăn uống (sau khi T bỏ đi, anh H2 nói anh T3 chở chị Q2 về nhà). T lái xe đến đỗ trước cổng quán rồi lấy 01 khẩu s ng săn bắn đ n ghém ở ghế sau, lấy 02 viên đ n ở hộc đ ng đồ bên phải ghế ngồi lái rồi lắp 01 viên vào s ng, 01 viên còn l i cầm trên tay và đến gần tường rào phía trước quán cà phê. T đưa nòng s ng vào bên trong quán theo hướng chếch lên cao và bắn 01 phát với mục đích hù dọa. Nghe tiếng s ng nổ, những người có mặt trong quán cà phê đi t m nơi ẩn nấp, T n p viên đ n thứ 02 rồi tiếp tục bắn thêm 01 phát để hù dọa. Sau khi bắn 02 phát s ng, T quay ra xe ô tô lấy viên đ n thứ 03 t i hộc đ ng đồ bên phải ghế lái rồi lắp vào s ng. L c này, anh H2 từ trong quán đi ra, nên giữa T và anh H2 đã có lời qua tiếng l i, giằng co, xô đẩy nhau.

Trong l c xô đẩy, anh H2 kéo nòng s ng của T dí vào đầu m nh và thách thức “Mi bắn đi, bắn cho chết” rồi quay người đi vào bên trong quán. Thấy vậy, T cầm s ng bắn (theo chiều hướng từ sau tới trước, từ phải qua trái, từ dưới lên trên) tr ng vào vùng lưng phải khiến anh H2 gục xuống t i cổng quán, còn T điều khiển xe ô tô rời khỏi hiện trường. Khi đi đến đo n kênh mương NTH, qua cầu bê tông thuộc Phường Y1, thị xã Q, T ném s ng và 01 viên đ n còn l i xuống kênh rồi điều khiển xe đến đỗ t i Bệnh viện a khoa huyện T5. Ngày 11-6-2021, Lê Thanh T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị đầu th .

Hậu quả: Anh Ngô ức H2 bị thương được đưa đi cấp cứu t i Bệnh viện a khoa tỉnh Quảng Trị. ến 23 giờ 30 ph t ngày 10-6-2021, th bị chết.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 712/KLGĐ-P 09 ngày 02-7-2021, Phòng Kỹ thuật hình sự ông an tỉnh Quảng Trị kết luận: Nguyên nhân chết của anh Ngô ức H2 là mất máu cấp do đa chấn thương vùng bụng.

Tại Bản kết luận giám định số 744/P 09 ngày 13-7-2021, Phòng Kỹ thuật hình sự ông an tỉnh Quảng Trị kết luận: Khẩu s ng và các mẫu vật gửi giám định gây được dấu vết thương tích trên tử thi Ngô ức H2. Dấu vết trên tử thi Ngô ức H2 được h nh thành do s ng bắn đ n ghém ở tầm bắn gần, theo hướng từ sau tới trước, từ phải qua trái, từ dưới lên trên.

Tại Bản kết luận giám định số 745/P 09 ngày 14-7-2021, Phòng Kỹ thuật hình sự ông an tỉnh Quảng Trị kết luận: Khẩu s ng ký hiệu M1 là lo i s ng săn, bắn đ n ghém cỡ 12, không phải s ng quân dụng. Các mẫu vật ký hiệu M2, M3, M4, M5 là thành phần cấu t o của lo i đ n ghém. Khẩu s ng M1 gửi giám định bắn được lo i đ n ghém có đặc điểm như trên.

Tại Bản kết luận giám định số 772/P 09 ngày 16-7-2021, Phòng Kỹ thuật hình sự ông an tỉnh Quảng Trị kết luận: T m thấy h nh ảnh có liên quan đến vụ án “Giết người” trên thẻ nhớ ký hiện M2 gửi đến giám định; trích xuất được 02 (hai) file dữ liệu có tên “hiv00131.mp4” (dung lượng 256MB), “hiv00132.mp4” (dung lượng 256MB); không t m thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trên các file dữ liệu này. Không đọc được dữ liệu trên các thẻ nhớ ký hiệu M1 gửi đến giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 666/C09C-Đ3 ngày 24-6-2021, Phân viện Khoa học hình sự tại Đà Nẵng kết luận: Chất màu nâu thu t i hiện trường và các chất màu nâu t i điện tho i di động, 02 đôi dép, quần đùi, quần lót trên người tử thi là máu của anh Ngô ức H2.

- Về nguồn gốc khẩu s ng và 04 viên đ n: Lê Thanh T khai nhận đã nhặt được t i 01 gốc cây khi đi qua thôn Tả Kiên, xã Triệu Giang, huyện T5 vào ngày 10-6-2021. Sau khi nhặt được, T cất s ng ở ghế sau, 04 viên đ n để ở hộc đ ng đồ bên phải ghế lái xe ô tô hiệu Huyndai Tucson.

- Vật chứng và tài sản thu giữ:

Thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường: 02 mảnh vật nh a có h nh trụ tròn, kích thước dài 07 cm, đường kính đáy 02 cm, thân bằng nh a màu trắng, đáy bằng kim lo i màu vàng; 01 mảnh nh a màu trắng trên bề mặt có bám chất màu đen, bề mặt bị rách, còng, vênh, kích thước 03 cm x 02 cm; 15 mảnh kim lo i nhỏ, có kích thước khoảng 0,2 cm x 0,2 cm, màu xám; 01 điện tho i di động mặt sau có ốp màu vàng đồng; 01 điện tho i di động màu đen; 02 thẻ nhớ DSS, lo i 32GB, màu đỏ trắng; 37 t i ni long, d ng tinh bột màu cam; 01 đôi dép da (d ng dép tông); 01 đôi dép da (d ng dép lê); 01 con dao có đặc điểm lưỡi dao bằng kim lo i, sắc nhọn, kích thước dài 40 cm, lưỡi dao rộng 11 cm, lưỡi dao dài 23,5 cm; chất lỏng màu nâu đỏ (nghi máu) được thu t i hiện trường.

Thu giữ trong quá trình khám nghiệm tử thi: 08 h t kim lo i; 01 vỏ (vật) nh a, dài 3,8 cm, đường kính 1,9 cm; 10 ml máu; 01 quần đùi màu đen, hoa văn bằng chữ cái màu cam; 01 quần lót màu xanh có dính máu (do bà Ph m Thị Th, cán bộ Bệnh viện a khoa tỉnh Quảng Trị giao nộp).

Thu giữ trong quá trình truy tìm vật chứng: 01 khẩu s ng săn dài 112 cm, nòng bằng kim lo i màu đen, dài 74 cm, báng s ng bằng gỗ dài 38 cm.

Chị Lê Thị Bích V2 (địa chỉ số 86 Đường L1, Phường Y1, thị xã Q, đối diện quán cà phê B1) giao nộp: Một thẻ nhớ lo i 128G màu đen, có dòng chữ Lexar đã qua sử dụng.

Ông Trần Bình B2 (nhân viên giữ xe tại Bệnh viện Đa khoa huyện T5, tỉnh Quảng Trị) giao nộp: 01 chiếc xe ô tô hiệu Huyndai Tucson; màu sơn đen; số khung RLUC9W14BKN014878; số máy: D4HAKU020876, không gắn biển kiểm soát.

Đối với xe ô tô hiệu Huyndai Tucson (không gắn biển kiểm soát): Quá tr nh điều tra đã xác định xe ô tô hiệu Huyndai Tucson, có biển kiểm soát 74A-109.14, chủ sở hữu là anh Trương Văn Tr. Ngày 06-5-2021, anh Tr cho anh Nguyễn Quang V2 (cùng tr t i thôn M, xã T6, huyện T5) mượn xe để thế chấp, vay tiền của anh Nguyễn ức T7 (em rể T, tr t i thôn N, xã T8, huyện T5). Anh T7 đã gửi xe và cho T mượn để làm phương tiện đi l i. Khi sử dụng, T tháo biển kiểm soát của xe. Quá tr nh điều tra xác định các anh Tr, V2 và T7 không biết T sử dụng xe ô tô để giấu s ng, đ n rồi sử dụng vào mục đích ph m tội, nên ngày 23-8-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị đã trả l i xe cho anh Tr. Vật chứng của vụ án chuyển đến Cục Thi hành án dân s tỉnh Quảng Trị chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Thanh T đã tác động gia đ nh bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu của gia đ nh bị h i là 566.400.000 đồng. Gia đ nh bị h i không có yêu cầu g thêm nên không xem xét.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2021/HS-ST ngày 26-10-2021, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị:

Áp dụng điểm n khoản 1 iều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 iều 51 của Bộ luật H nh s , xử ph t:

Lê Thanh T 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người”. Thời h n chấp hành h nh ph t tù tính từ ngày bắt 11-6-2021.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 01-11-2021, ông Ngô ức V là người đ i diện hợp pháp của bị h i kháng cáo đề nghị tăng h nh ph t và điều tra xử lý về hành vi tàng trữ sử dụng vũ khí trái phép.

- Ngày 08-11-2021, Lê Thanh T kháng cáo xin giảm h nh ph t.

- T i Quyết định kháng nghị ph c thẩm số 29/Q -VC2 ngày 25-11-2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao t i à Nẵng đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao t i à Nẵng, xét xử ph c thẩm xử ph t tù chung thân đối với Lê Thanh T.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo, người đ i diện hợp pháp của bị h i kháng cáo bản án; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao t i à Nẵng kháng nghị bản án. ơn kháng cáo của bị cáo, của người đ i diện hợp pháp của bị h i và kháng nghị của Viện kiểm sát là trong thời h n quy định t i khoản 1 iều 333, khoản 1 iều 337 của Bộ luật Tố tụng h nh s , do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử ph c thẩm. T i phiên tòa, bị cáo và người đ i diện hợp pháp của bị h i đều giữ nguyên kháng cáo. i diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao t i à Nẵng giữ nguyên kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử ph c thẩm căn cứ điểm a, b khoản 1 iều 355, iều 356 và điểm a khoản 2 iều 357 của Bộ luật Tố tụng h nh s :

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

- Chấp nhận kháng cáo của người đ i diện hợp pháp của bị h i.

- Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao t i à Nẵng.

- Sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng h nh ph t, áp dụng h nh ph t tù chung thân đối với bị cáo Lê Thanh T.

T i phần tranh luận, bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định, nhưng cho rằng do bị cáo không kiềm chế được bản thân nên nhất thời ph m tội, bị cáo không có mục đích giết bị h i, mà chỉ là chĩa s ng về phía bị h i bắn hù dọa; đồng thời, cho rằng bị cáo có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s như: sau khi ph m tội đã ra đầu th , thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; t nguyện bồi thường toàn bộ thiệt h i theo yêu cầu của phía bị h i; gia đ nh bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ không có việc làm, bố mẹ già yếu và có hai con nhỏ, từ đó đề nghị Hội đồng xét xử ph c thẩm giảm h nh ph t.

Người đ i diện hợp pháp của phía bị h i cho rằng hành vi của Lê Thanh T là có mục đích, cố t nh ph m tội và hậu quả chết người đã xảy ra, nên đề nghị tăng h nh ph t đối với bị cáo và điều tra, xử lý về hành vi bị cáo sử dụng vũ khí trái phép.

. Xét kháng cáo của bị cáo:

. Về tội danh:

Khoảng 21 giờ ngày 10-6-2021, t i quán cà phê B1 của anh Ngô ức H2 t i số 86 đường L1, thị xã Q, giữa anh H2 và Lê Thanh T có lời qua tiếng l i với nhau và T rời khỏi quán. Sau đó, cho rằng anh H2 không coi trọng m nh, nên T điều khiển xe ô tô trở l i quán rồi lấy 01 khẩu s ng săn bắn 02 phát vào trong quán để hù dọa. Thấy vậy, anh H2 đi ra và giữa hai bên có s giằng co, xô đẩy nhau. Anh H2 có hành vi kéo nòng s ng dí vào đầu m nh, thách thức T bắn rồi quay l i để đi vào quán, th bị T cầm s ng bắn tr ng vào vùng lưng phải, làm cho anh H2 gục t i chỗ và được đưa đi cấp cứu. ến 23 giờ 30 ph t cùng ngày, anh H2 bị chết.

Với hành vi ph m tội như nêu trên, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị kết án Lê Thành T về tội “Giết người” theo iều 123 của Bộ luật H nh s là có căn cứ, đ ng pháp luật.

. Về h nh ph t:

Cho rằng anh Ngô ức H2 không coi trọng m nh, Lê Thanh T đã sử dụng s ng săn, bắn đ n ghém, bắn vào lưng, làm cho anh Ngô ức H2 bị chết do “Mất máu cấp do đa chấn thương vùng bụng”. Như vậy, chỉ v một mâu thuẫn rất nhỏ, bị cáo sẵn sàng sử dụng s ng rồi ngang nhiên tước đo t tính m ng của người khác. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi này không những thể hiện tính côn đồ, coi thường pháp luật, mà còn làm mất trật t trị an địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Với hành vi ph m tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng như đã nêu, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm n khoản 1 iều 123 của Bộ luật H nh s , xử ph t bị cáo 20 (hai mươi) năm tù là tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội của bị cáo.

Mặc dù, t i phiên tòa ph c thẩm gia đ nh bị cáo cung cấp được tài liệu để chứng minh trước khi ph m tội, bị cáo nhiệt t nh trong công tác thiện nguyện (có xác nhận của chính quyền địa phương), nhưng đây chỉ được coi là t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s theo khoản 2 iều 51 của Bộ luật H nh s ; đồng thời, nhân thân của bị cáo không tốt, đã 01 lần bị kết án và nhiều lần bị xử ph t hành chính; do đó, để cải t o, giáo dục đối với bị cáo, cũng như ngăn chặn và phòng ngừa chung đối với lo i tội ph m này, Hội đồng xét xử ph c thẩm không giảm h nh ph t cho bị cáo.

Như vậy kháng cáo của bị cáo đã được Hội đồng xét xử ph c thẩm xem xét, nhưng không có căn cứ để chấp nhận.

. Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát:

. ối với việc áp dụng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s :

Kháng nghị cho rằng đối với tội “Giết người” th t nh tiết t nguyện bồi thường thiệt h i, thành khẩn khai báo và đầu th có mức độ giảm nhẹ trách nhiệm h nh s không đáng kể là không có căn cứ, bởi lẽ:

T nguyện bồi thường thiệt h i; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người ph m tội đầu th được quy định t i điểm b, s khoản 1 và khoản 2 iều 51 của Bộ luật H nh s . T i iều 54 của Bộ luật H nh s quy định: “1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

...

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”.

Như vậy, theo quy định nêu trên th người ph m tội nếu có ít nhất hai t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s quy định t i khoản 1 iều 51 của Bộ luật H nh s (trong đó có các điểm b, s) th được áp dụng h nh ph t dưới mức thấp nhất của khung h nh ph t; đồng thời, người ph m tội có đủ các điều kiện quy định t i khoản 1 hoặc khoản 2 iều 51 của Bộ luật H nh s , th có thể được áp dụng h nh ph t dưới mức thấp nhất của khung h nh ph t, nếu điều luật chỉ có một khung h nh ph t, mà không quy định rõ các tội danh không được áp dụng.

. ối với việc áp dụng t nh tiết tặng nặng trách nhiệm h nh s :

Người ở trong t nh tr ng không thể t vệ được là người do bản thân họ bị h n chế về khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do bẩm sinh hoặc do những điều kiện khách quan đem l i như đang ngủ say, đang bị bệnh nặng hoặc đang bị h n chế s ho t động của cơ thể (bị trói chân, tay)... Trong vụ án này, khi anh Ngô ức H2 và Lê Thanh T giằng co, xô đẩy nhau, anh H2 có hành vi kéo nòng s ng dí vào đầu m nh và thách thức T bắn. Như vậy, trước và trong l c giằng co nhau, anh H2 vẫn có khả năng t vệ. Do đó, kháng nghị cho rằng bị cáo phải bị áp dụng t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s “Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được” là không đ ng.

ể giải quyết mâu thuẫn, Lê Thanh T lấy 02 viên đ n ở hộc đ ng đồ bên phải ghế ngồi lái xe ô tô rồi lắp 01 viên vào khẩu s ng săn bắn đ n ghém, 01 viên còn l i cầm trên tay và đưa nòng s ng vào bên trong quán theo hướng chếch lên cao, bắn 01 phát với mục đích hù dọa. Sau đó, T n p viên đ n thứ 02 rồi tiếp tục bắn thêm 01 phát nữa để hù dọa. Sau khi bắn 02 phát s ng, T quay ra xe ô tô lấy viên đ n thứ 03 lắp vào s ng. Như vậy, khi bắn anh Ngô ức H2, th trong khẩu s ng chỉ có 01 viên đ n và t i thời điểm này, trong quán không còn đông người. Do đó, kháng nghị cho rằng bị cáo phải bị áp dụng t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s : “Dùng phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội” là chưa đủ căn cứ.

Như vậy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát đã được Hội đồng xét xử ph c thẩm xem xét và không có cơ sở để chấp nhận.

. Xét kháng cáo của người đ i diện hợp pháp của bị h i:

. ối với kháng cáo tăng h nh ph t:

Hành vi ph m tội của Lê Thanh T thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nên cần phải áp dụng một h nh ph t nghiêm khắc, việc cách lý bị cáo ra khỏi xã hội là điều cần thiết. Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s như: sau khi ph m tội đã ra đầu th ; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; t nguyện bồi thường toàn bộ thiệt h i mà người đ i diện hợp pháp của bị h i yêu cầu (566.400.000 đồng) và t i phiên tòa ph c thẩm, bị cáo có nguyện vọng tiếp tục bồi thường thiệt h i để khắc phục hậu quả, nếu phía bị h i có yêu cầu; gia đ nh bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ già yếu, vợ không có việc làm và con còn nhỏ; ngoài ra, trong vụ án này, mặc dù bị h i không có lỗi, nhưng khi xảy ra xô xát, giằng co nhau, bị h i có hành vi kéo nòng s ng dí vào đầu m nh và có lời nói thách thức, nên cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến hành vi ph m tội của bị cáo. V vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t bị cáo 20 (hai mươi) năm tù là tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Do đó, kháng cáo tăng h nh ph t của người đ i diện hợp pháp của bị h i là không có cơ sở.

. ối với kháng cáo đề nghị điều tra, xét xử hành vi tàng trữ vũ khí trái phép:

T i Bản kết luận giám định số 745/PC09 ngày 14-7-2021, Phòng Kỹ thuật h nh s Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Khẩu súng ký hiệu M1 là loại s ng săn, bắn đạn ghém cỡ 12, không phải súng quân dụng.

T i iều 3 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu hỗ trợ và công cụ hỗ trợ năm 2017 và t i khoản 1 iều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu hỗ trợ và công cụ hỗ trợ năm 2019 quy định:

“1. Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất bao gồm: vũ khí quân dụng, s ng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự....”.

T i iều 306 của Bộ luật H nh s quy định: “1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt s ng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm...”. Mặc dù, pháp luật có quy định xử lý h nh s về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép s ng săn”, nhưng cấu thành cơ bản của tội này là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định t i điều luật. Lê Thanh T có sử dụng s ng săn để ph m tội, nhưng hành vi sử dụng s ng săn của T chưa bị xử ph t hành chính, nên không đủ yếu tố để cấu thành tội ph m. V vậy, kháng cáo của người đ i diện hợp pháp của bị h i yêu cầu điều tra, xét xử đối với Lê Thanh T về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí” cũng không có cơ sở.

Như vậy, kháng cáo của người đ i diện hợp pháp của bị h i đã được Hội đồng xét xử ph c thẩm xem xét, nhưng không có cơ sở để chấp nhận.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử ph c thẩm không xem xét.

. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí h nh s ph c thẩm theo quy định của pháp luật. Người đ i diện hợp pháp của bị h i không phải chịu án phí ph c thẩm.

V các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 iều 355 và iều 356 của Bộ luật Tố tụng h nh s .

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh T.

- Không chấp nhận kháng cáo của người đ i diện hợp pháp của bị h i là ông Ngô ức V.

- Không chấp nhận Quyết định kháng nghị ph c thẩm số 29/Q -VC2 ngày 25-11-2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao t i à Nẵng.

- Giữ nguyên Bản án h nh s sơ thẩm số 39/2021/HS-ST ngày 26-10-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

2. Về trách nhiệm h nh s :

Áp dụng điểm n khoản 1 iều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 iều 51 của Bộ luật H nh s , xử ph t:

Lê Thanh T 20 (hai mươi) năm tù về tội “Giết người”. Thời h n chấp hành h nh ph t tù tính từ ngày bắt 11-6-2021.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

4. Về án phí:

Căn cứ điểm b khoản 2 iều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngh n đồng) án phí h nh s ph c thẩm.

5. Bản án ph c thẩm có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ