vanban.org

Bản án 95/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 04/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lò Văn L 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2022.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Lò Văn L được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Nhượng - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lò Văn L 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2022/HS-ST
Ngày 04 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mai Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang Vinh

2. Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 đối với:

* Bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn L, tên gọi khác: Không; sinh năm 1996;

Nơi cư trú: B, xã L, huyện Đ, tỉnh Đ;

Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Lò Văn Đoan (đã chết) và bà Vì Thị Khiên, sinh năm 1978; gia đình có 03 anh em, bản thân bị cáo là con thứ hai; có vợ là Lò Thị Quy, sinh năm 1996 (đã ly hôn), chưa có con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lạng Giang. (Có mặt tại phiên toà)

* Bị hại: Công ty TNHH Tùng Dương. Người đại diện theo pháp luật: Anh Trần Quốc Toàn, giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Trần Ngọc Dương (tổ trưởng tổ bảo vệ của công ty), sinh năm 1971, địa chỉ: Tổ dân phố Kim Sơn, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phạm Văn Phương, sinh năm 1975, địa chỉ: Làn 3, đường Thân Nhân Trung, tổ 4, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

- Anh Vũ Văn Thành, sinh năm 1981, địa chỉ: Tổ dân phố Tân Luận, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

- Chị Bùi Thị Thục, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn Cả, xã Mỹ Thái, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

- Anh Hoàng Văn Bộ, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm Nà Ngườm, xã Đức Hồng, huyện Trùng Khãnh, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn L, sinh năm 1996 ở bản Đại, xã Luân Giói, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên và Hoàng Văn Bộ, sinh năm 1984 ở xóm Nà Ngườm, xã Đức Hồng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) làm thuê cho anh Phạm Văn Phương, sinh năm 1975 ở tổ 4, phường Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Hàng ngày, anh Phương sắp xếp công việc cho Bộ, Nhượng và một số người khác đi làm. Bộ và Nhượng được anh Phương bố trí đến làm thuê cho anh Vũ Văn Thành, sinh năm 1981 ở Tổ dân phố Tân Luận, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tại công trình xây dựng Khu đô thị mới phía Tây thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Anh Phương cho Bộ và Nhượng mượn chiếc xe mô tô kiểu dáng Honda Dream màu nâu (không rõ BKS) để đi làm.

Sáng ngày 16/11/2021, Nhượng và Bộ đến làm cho anh Thành tại công trình xây dựng. Quá trình làm việc, Nhượng nhặt sắt vụn thừa để mang đi bán. Sau khi ăn cơm trưa tại nhà anh Thành xong, Nhượng xin phép anh Thành mang sắt vụn đi bán thì được anh Thành đồng ý. Lúc này, Nhượng nảy sinh ý định trộm cắp dây cáp điện ngầm của Công ty TNHH Tùng Dương tại khu vực công trình đang xây dựng. Nhượng điều khiển xe mô tô mang theo 01 con dao loại dao chặt (dụng cụ xây dựng của anh Thành) đi đến khu vực bãi đất trống chưa xây dựng, giao giữa đường nội tuyến 51 và 30 thuộc tổ dân phố Thống Nhất, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang thì đỗ xe lại. Nhượng cầm theo con dao tiến lại cuộn dây cáp điện ngầm nhãn hiệu CADI - SUN loại DSTA 3x35+1x25 để trên bệ xi măng, dây cáp bọc trong ống nhựa màu da cam, thò ra ngoài. Nhượng dùng tay kéo dây cáp điện ngầm ra rồi dùng dao chặt đứt một đoạn dài 3,7 mét. Sau đó, Nhượng mang con dao đi giấu tại bãi cỏ phía sau nhà Văn hoá tổ dân phố Thống Nhất rồi đi xe mô tô mang đoạn dây cáp điện ngầm trộm cắp và số sắt vụn nhặt được đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Bùi Thị Thục, sinh năm 2001 ở thôn Cả, xã Mỹ Thái, huyện Lạng Giang bán đoạn dây cáp điện ngầm trộm cắp được số tiền 480.000 đồng, số sắt vụn bán được 110.000 đồng. Bán tài sản xong, Nhượng quay lại công trình xây dựng tiếp tục làm việc.

Buổi chiều khi xong việc, Nhượng và Bộ mang dụng cụ xây dựng về nhà anh Thành cất rồi ra về. Trên đường đi, Nhượng nói “tý nữa đi lấy dây điện” tức rủ Bộ đi trộm cắp tài sản. Bộ hiểu và đồng ý. Nhượng đi xe mô tô chở Bộ đến vị trí cuộn dây cáp điện ngầm trộm cắp buổi trưa của Công ty TNHH Tùng Dương thì đỗ xe lại. Nhượng lấy con dao giấu tại bãi cỏ chặt đứt một đoạn dây cáp điện ngầm dài 3,9 mét còn Bộ đứng trông xe và cảnh giới. Chặt xong, Nhượng mang con dao giấu tại bãi cỏ rồi quay lại đưa dây cáp điện ngầm trộm cắp cho Bộ rồi Nhượng đi xe mô tô chở Bộ mang theo tài sản trộm cắp đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Thục. Nhượng trực tiếp bán đoạn dây cáp điện ngầm cho chị Thục được số tiền 560.000 đồng. Số tiền bán tài sản trộm cắp được, Nhượng và Bộ đã mua ma tuý sử dụng hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 138/KL-HĐĐGTS ngày 03/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Lạng Giang kết luận:

- 3,7 mét dây cáp điện ngầm nhãn hiệu CADI - SUN loại DSTA 3x35+1x25 có giá 1.295.000 đồng.

- 3,9 mét dây cáp điện ngầm nhãn hiệu CADI - SUN loại DSTA 3x35+1x25 có giá 1.365.000 đồng.

Ngày 02/12/2021, chị Bùi Thị Thục đã giao nộp cho Cơ quan Công an: 02 đoạn vỏ dây cáp điện ngầm bên ngoài có ký hiệu DSTA 3cx35+1cx25 và ghi chữ “Anh” có độ dài lần lượt là 3,7 mét và 3,9 mét (vỏ dây cáp điện ngầm Bộ và Nhượng trộm cắp). Phần lõi dây cáp điện ngầm chị Thục khai đã bán cho một người không quen biết nên không có căn cứ để thu hồi.

Ngày 03/12/2021, Cơ quan điều tra đã kiểm tra truy tìm vật chứng tại bãi cỏ phía sau nhà văn hoá Tổ dân phố Thống Nhất phát hiện và thu giữ: 01 con dao màu đen loại dao chặt dài 41cm, bản rộng 4,8cm, lưỡi dao dài 29cm (công cụ của Nhượng sử dụng chặt đứt dây cáp điện).

Cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 14 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Lò Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Lò Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đã nêu; ngoài ra, bị cáo trình bày có thời gian từng tham gia qua ngũ thời gian từ tháng 8/2014 đến 20/01/2016 thuộc đội vũ trang tại đồn Biên phòng Mường Cồn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 07 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2022. Về án phí, quyền kháng cáo đề nghị tuyên theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi trộm cắp của mình là sai, mong HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang¸ điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 16/11/2021, tại công trình xây dựng Khu đô thị mới phía Tây thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Lò Văn L có hành vi trộm cắp 3,9 mét dây cáp điện ngầm nhãn hiệu CADI - SUN loại DSTA 3x35+1x25 trị giá 1.365.000 đồng và 3,7 mét dây cáp điện ngầm nhãn hiệu CADI - SUN loại DSTA 3x35+1x25 có giá 1.295.000 đồng là tài sản của Công ty TNHH Tùng Dương. Tổng giá trị tài sản do Nhượng trộm cắp là 2.660.000 đồng.

Xét thấy bị cáo Lò Văn L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, song do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Lò Văn L đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội.

Về nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Lò Văn L phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có thời gian tham gia quân ngũ. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đó là cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Loại và mức hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

Các vấn đề khác:

Đối với chị Bùi Thị Thục không biết các tài sản mua của Nhượng là do trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là phù hợp.

Đối với anh Vũ Văn Thành không biết việc Bộ và Nhượng sử dụng con dao thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với chiếc xe mô tô Nhượng và Bộ sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, anh Phương trình bày đã bán cho người không quen biết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh là phù hợp.

Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là người người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn L 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2022.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Lò Văn L được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ