- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tr M T phạm tội cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần M T phạm tội “Cướp T sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2022/HS-ST Ngày 26-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Thuận;
Ông Bùi Dân An.
- Thư ký phiên tòa: ông Lưu Sử Ngọc Quân, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần M T, sinh năm 1977 tại Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: nhà số 381, tổ 29, khu phố L T, phường L T T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: sống lang thang; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ph Qu và bà Ph Th N; vợ: Nguyễn T Đ và 01 (một) người con, sinh năm 2014; tiền án: có 01 tiền án, tại Bản án số 09/2019/HSST ngày 01/3/2019, Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp T sản” đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa nộp tiền án phí, chưa được xóa án tích; tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 05/7/1996, Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp T sản công dân”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/6/1997 tại Trại giam Cây Cầy, đã được xoá án tích; Ngày 20/7/1998, Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp T sản công dân”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/9/1999 tại Trại giam An Phước, đã được xoá án tích; Ngày 10/3/2004, Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm tuyên phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp T sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt T sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/9/2009 tại Trại giam Xuân Lộc, đã được xoá án tích; Ngày 15/11/2017, Công an phường Long Thành Trung, thị xã Hoà Thành xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp T sản”, đã hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/7/2022 đến ngày 21/7/2022 chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.
Bị hại: chị Tr Th K T, sinh năm 1994; cư trú tại: khu phố L T, phường L T T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; có đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết từ trước với ông Trần Văn Gh, sinh năm 1942 và chị Trần Th K T, sinh năm 1994 là con ông Gh, cùng ngụ khu phố L T, phường L T T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh nên vào khoảng 12 giờ ngày 15/7/2022, T đến nhà ông Gh uống rượu và nhìn thấy 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11, màu xanh đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A74 của Th để trên đầu tủ lạnh. Sau khi uống rượu xong, T dùng xe đạp chở ông Gh đi uống cà phê, trên đường đi, do say xỉn nên ông Gh tự té ngã xuống đường. Lúc này, T đỡ ông Gh vào nhà dân ở gần đó, còn T điều khiển xe đạp quay lại nhà ông Gh báo tin cho Th. Trên đường quay lại, T nảy sinh ý định chiếm đoạt 02 điện thoại của Th để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đến, thấy Th đang dọn dẹp trước nhà nên T nói ông Gh bị té xe và kêu Th đi chở ông Gh về nhằm tạo sơ hở để chiếm đoạt điện thoại nhưng Th không đồng ý. Lúc này, Th cầm theo 01 con dao đi vào phía sau nhà để cất, T tiếp tục đi theo hối thúc nhưng Th củng không đi. Thấy vậy, T tiến đến từ phí sau, dùng tay trái bóp mạnh cổ Th đẩy về trước làm Th ngã nằm xuống giường, còn tay phải, T gạt tay trái của Th lấy con dao ném ra xa. Tiếp đó, T đổi sang tay phải tiếp tục bóp cổ, tay trái lấy gối có sẵn trên giường đè lên vùng mặt của Th, sau đó dùng cả hai tay đè mạnh lên gối làm Th nghẹt thở bất tỉnh. Khi thấy Th không còn cử động, sợ Th chết nên T cầm hai chân kéo trượt Th trên nền xi măng vào nhà vệ sinh nhằm có hơi nước giúp Th tỉnh lại. Lúc này, T thấy Th đã thở trở lại nên bỏ đi ra ngoài lấy 02 điện thoại di động trên tủ lạnh đi ra cặp hông nhà đứng quan sát xem ông Gh có đi về không thì nhìn thấy Th từ trong nhà chạy ra. Do sợ hãi, T nhanh chóng bỏ trốn khỏi hiện trường. Th tri hô và đến Công an phường Long Thành Trung, thị xã Hoà Thành trình báo sự việc. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang lẩn trốn tại khu vực ấp Trường Giang, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành thì bị bắt giữ, thu 02 điện thoại di động là vật chứng của vụ án. Trong quá trình lẩn trốn, T đã dùng răng cắn làm hư hỏng 02 màn hình điện thoại cướp được của chị Th.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần M T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Kết luận định giá T sản: tại Bản kết luận định giá T sản số 38/KLĐG-TTHS ngày 12 tháng 8 năm 2022 của Hội đồng định giá T sản trong tố tụng hình sự thị xã Hòa Thành kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F11, màu xanh đen có giá trị 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A74, màu tím có giá trị 2.500.000 đồng. Tổng giá trị chiếm đoạt là 4.000.000 đồng.
* Vật chứng vụ án: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F11, màu xanh đen, số Imeil1: 869874040154096; Imeil2: 869874040154088 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A74, màu tím, thân máy ghi dãy số: Z050319A-J0323B, bị bể thân máy không hoạt động được, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc gối vãi màu xanh trắng, đã qua sử dụng.
* Kê biên T sản: bị cáo Trần M T không có T sản nên không tiến hành kê biên.
* Trách nhiệm dân sự: chị Th yêu cầu bị cáo bồi thường T sản bị hư hỏng với số tiền 4.000.000 đồng, bị cáo chưa bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số 89/CT-VKSHT ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trần M T về tội “Cướp T sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Trần M T phạm tội “Cướp T sản”, căn cứ: điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần M T mức án từ 07 năm đến 08 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự: bị cáo T đồng ý bồi thường cho chị Th số tiền 4.000.000 đồng nên cần ghi nhận.
- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại Cơ quan điều tra, đúng như nội dung bản Cáo Trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo và các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo T: bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ để sớm về với gia đình.
Bị hại Trần Th K T có đơn xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 15/7/2022, tại khu phố L T, phường L T T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Trần M T đã dùng tay trái bóp mạnh cổ chị Trần Th K T đẩy về trước làm Th ngã nằm xuống giường, T đổi sang tay phải tiếp tục bóp cổ, tay trái lấy gối có sẵn trên giường đè lên vùng mặt của Th, sau đó tiếp tục dùng cả hai tay đè mạnh lên gối làm chị Th nghẹt thở bất tỉnh, không thể chống cự để chiếm đoạt 02 điện thoại di động có tổng giá trị 4.000.000 đồng. Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp T sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng...thủ đoạn nguy hiểm khác”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Bản cáo trạng số 89/CT-VKSHT ngày 31/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trần M T về tội “Cướp T sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến T sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo T đã từng bị xét xử về các tội “Trộm cắp T sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt T sản”, xử phạt về hành vi “Trộm cắp T sản”, đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản than, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải lao động nên bị cáo T đã thực hành vi phạm tội là thể hiện tính coi thường pháp luật. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp T sản”, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là “tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo không có T sản và không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: chị Th yêu cầu bồi thường T sản bị hư hỏng số tiền 4.000.000 đồng và được bị cáo T đồng ý tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F11, màu xanh đen, số Imeil1: 869874040154096; Imeil2: 869874040154088 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A74, màu tím, thân máy ghi dãy số: Z050319A-J0323B, bị bể thân máy không hoạt động được, đã qua sử dụng là T sản hợp pháp của chị Th, chị Th có yêu cầu nhận lại T sản nên cần trả lại cho chị Th.
01 mũ lưỡi trai màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo T; 01 chiếc gối vãi màu xanh trắng, của chị Th, đã qua sử dụng, chị Th không yêu cầu nhận lại gối, là các vật chứng trong vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần M T phạm tội “Cướp T sản”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần M T 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 15/7/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, 586, 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Trần M T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho chị Trần Th K T số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng do T sản bị xâm phạm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Th cho đến khi thi hành án xong, bị cáo T còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho chị Trần Th K T: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F11, màu xanh đen, số Imeil1: 869874040154096; Imeil2: 869874040154088 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A74, màu tím, thân máy ghi dãy số: Z050319A-J0323B, bị bể thân máy không hoạt động được, đã qua sử dụng
Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ lưỡi trai màu đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc gối vãi màu xanh trắng, đã qua sử dụng.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần M T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo Trần M T biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Th K T vắng mặt, được quyền kháng cáo lên Tòa án tỉnh Tây trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP. HCM; - PKTNV- TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Hòa Thành; - Cơ quan THAHS; - Chi cục THADS thị xã Hòa Thành; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh TN; - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Tuấn |