vanban.org

Bản án 95/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 07/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

X phạt: Đỗ Thanh T 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính kể từ ngày tuyên án (ngày 07/9/2022). Giao bị cáo Đỗ Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh B nơi bị cáo T cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 95/2022/HS-ST
Ngày: 07/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H,

TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M M.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Cao Thị Kim Y

2. Ông Đặng Văn M

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Văn T – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích T – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2022/QĐXXST-HS ngày 24/8/2022, đối với bị cáo:

ĐỖ THANH T - Sinh năm 1980 tại B; Nơi cư trú: Thôn 1, xã H, huyện H, tỉnh B; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vA: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn A và bà Nguyễn Thị L; Vợ: Phan Thị T, Có 2 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/6/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Ông Phạm Thanh N - Sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn 1, xã H - H, tỉnh B.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Châu Thị M H - Sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn 1, xã H - H, tỉnh B.

(Tất cả đều có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 30/3/2022, Đỗ Thanh T mang theo 01 cây kềm chiều dài 20cm, phần cán bằng nhựa màu nâu đỏ dài 13cm, có chữ GOODMAN, phần còn lại bằng sắt dài 07cm mục đích đi tìm kiếm tài sản trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi tới nhà anh Phạm Thanh N, ở tổ 7, thôn 1, xã H, huyện H, thấy nhà tắt đèn, không có ai trông coi. T lén lút đi đến dùng kềm mang theo cắt khoen sắt trên cánh cửa bên hông trái nhà, mở cửa đột nhập vào trong nhà lục tìm tài sản trộm cắp. Khi đến gian nhà trước, thấy bên phải có một ky nhựa bên trong để dây điện đủ loại màu sắc. T lấy hết số dây điện gồm 17 cuộn lớn nhỏ không đều (trong đó có 08 cuộn dây điện màu trắng, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Technology KOREA, Vcmd: 2 x 1.5 (2 x 30/0,25), dài tổng cộng 400 mét; 02 cuộn dây điện màu xanh, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu VITHAICO, Vcmd: 2 x 1.5 (2 x 30/0,25), dài tổng cộng 76 mét; 02 cuộn dây điện màu vàng, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu VITHAICO, Vcmd: 2 x 1.5 (2 x 30/0,25), dài tổng cộng 100 mét; 05 cuộn dây điện màu vàng, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu VITHAICO, Vcmd: 2 x 1.0 (2 x 32/0,20), dài tổng cộng 250 mét) bỏ vào một cái bao lát màu đỏ (có sẵn gần đó) vác lên vai rồi tẩu thoát ra ngoài rồi cất giấu số dây diện vừa trộm được vào bụi cây ven đường cách nhà anh N khoảng 400 - 500m rồi về nhà ngủ. Đến khoảng 07 giờ ngày 31/3/2022, T điều khiển xe mô tô, biển số 86F6-4903 nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh (xe đã thay dàn áo so với ban đầu nhãn hiệu là MINGXING, xe T mua lại đã sang tên đổi chủ, xe đã được thay số khung so với ban đầu thành RLHH009043Y653689, số máy đã bị đục phá không rõ số do xe bị hư hỏng sửa lại) đến bụi cây ven đường (nơi cất giấu số dây điện trộm cắp) lấy số dây điện trộm cắp được đi đến nhà chị Châu Thị M H (là người thu mua phế liệu), ở cùng thôn để bán, chị H hỏi “dây điện ở đâu có mà bán” thì T trả lời “do người quen ở ngoài Triền thuộc thôn 7, xã H không sử dụng nữa nên cho em”. Tin là thật nên H đồng ý mua, cân số dây điện được 30kg với giá 80.000 đồng/1 ký và đưa cho T số tiền là 2.400.000 đồng, toàn bộ số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi tiếp nhận nguồn tin tội phạm, ngày 02/4/2022, Công an xã H đã mời T tới trụ sở Công an xã làm việc. Tại đây, Đỗ Thanh T đã thừa nhận toàn bộ và giao nộp số tài sản gồm 01 cây kềm (loại kềm cắt) chiều dài 20 cm, phần cán bằng nhựa màu nâu đỏ dài 13 cm, có chữ GOODMAN, phần còn lại bằng sắt 07 cm và 01 xe mô tô Wave màu xanh, biển số 86F6-4903 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 015055 đứng tên Đỗ Thanh T. Cùng ngày 02/4/2022, chị Châu Thị M H sau khi biết số dây điện mua của Đỗ Thanh T là tài sản do phạm tội mà có đã tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số dây điện trên và 01 bao lát màu đỏ cho Công an xã Hàm Đức xử lý theo quy định.

Kết luận định giá tài sản số 23/2022/HĐĐGTT ngày 20/5/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện H:

08 cuộn dây điện (400m) màu trắng: Nhãn hiệu Technology KOREA, lõi bằng đồng; Loại dây Vcmd 2 x 1.5 (2x30/0,25), Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 7.500đ/m. Giá trị sử dụng còn lại là 40%. Thành tiền: 400m x 7.500/m x 40% = 1.200.000 đồng.

02 cuộn dây điện (76m) màu xanh: Nhãn hiệu VITHAICO, lõi bằng đồng, Loại dây Vcmd 2 x 1.5 (2x30/0,25), Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 7.000đ/m. Giá trị sử dụng còn lại là 40%. Thành tiền: 76m x 7.000/m x 40% = 212.800 đồng.

02 cuộn dây điện (100m) màu vàng: Nhãn hiệu VITHAICO, lõi bằng đồng, Loại dây Vcmd 2 x 1.5 (2x30/0,25), Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 7.000đ/m. Giá trị sử dụng còn lại là 40%. Thành tiền: 100m x 7.000/m x 40% = 280.000 đồng.

05 cuộn dây điện (250m) màu vàng:Nhãn hiệu VITHAICO, lõi bằng đồng, Loại dây Vcmd 2 x 1.0 (2x32/0,20). Trị giá tại thời điểm xảy ra vụ án là 5.000đ/m. Giá trị sử dụng còn lại là 40%. Thành tiền: 250m x 5.000/m x 40% = 500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá là 2.192.800 đồng.

Vật ch ng vụ án thu gi và x l :

08 cuộn dây điện màu trắng, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Technology KOREA, Vcmd: 2 x 1.5 (2 x 30/0,25), dài tổng cộng 400 mét; 02 cuộn dây điện màu xanh, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu VITHAICO, Vcmd: 2 x 1.5 (2 x 30/0,25), dài tổng cộng 76 mét; 02 cuộn dây điện màu vàng, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu VITHAICO, Vcmd: 2 x 1.5 (2 x 30/0,25), dài tổng cộng 100 mét; 05 cuộn dây điện màu vàng, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu VITHAICO, Vcmd: 2 x 1.0 (2 x 32/0,20), dài tổng cộng 250 mét và 01 bao lát màu đỏ là vật chứng của vụ án, sau khi tạm giữ và làm rõ Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại toàn bộ số tài sản trên cho chủ sở hữu là anh Phạm Thanh N.

01 xe mô tô, biển số 86F6 - 4903, nhãn hiệu Honda, loại Wave 110, màu sơn xanh, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H xác M làm rõ xe mô tô này thuộc sở hữu của bị can T, quá trình sử dụng bị xe máy cày cán qua, hư hỏng nên đã thay dàn áo, số khung xe khác để sử dụng (số khung theo như đăng ký biển số xe 86F6 - 4903 là CPCH0A2YF000941, số máy là P50FMH*Y0274816, còn số khung hiện tại là RLHH009043Y653689, số máy đã bị đục phá không rõ số); Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã tra cứu thông tin số khung RLHH009043Y653689, kết quả là không tìm thấy dữ liệu tra cứu (Đỗ Thanh T dùng xe này để thực hiện hành vi phạm tội), 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 015055 đứng tên Đỗ Thanh T và 01 cây kềm (loại kềm cắt) chiều dài 20cm, phần cán bằng nhựa màu nâu đỏ dài 13cm, có chữ GOODMAN, phần còn lại bằng sắt 07cm là công cụ phạm tội là vật chứng của vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện H đến Chi cục thi hành án dân sự huyện H để bảo quản, xử lý theo quy định.

Về dân sự: Bị hại Phạm Thanh N yêu cầu Đỗ Thanh T bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi nhận đủ số tiền bồi thường ông N không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin bãi nại miễn trách nhiệm hình sự cho Đỗ Thanh T.

Châu Thị M H không yêu cầu Đỗ Thanh T phải bồi thường số tiền 2.400.000 đồng mà H đã mua số dây điện của T.

Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKSHTB ngày 09/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Bị cáo Đỗ Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản ” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Đỗ Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Phạt Đỗ Thanh T từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng;

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu sung quỹ : 01 xe mô tô, biển số 86F6 - 4903, nhãn hiệu Honda, loại Wave 110, màu sơn xanh, đã thay dàn áo, số khung xe khác để sử dụng (số khung theo như đăng ký biển số xe 86F6 - 4903 là CPCH0A2YF000941, số máy là P50FMH*Y0274816, còn số khung hiện tại là RLHH009043Y653689, số máy đã bị đục phá không rõ số, 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 015055 đứng tên Đỗ Thanh T;

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kềm (loại kềm cắt) chiều dài 20cm, phần cán bằng nhựa màu nâu đỏ dài 13cm, có chữ GOODMAN, phần còn lại bằng sắt 07cm là công cụ phạm tội của vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thanh T khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 20 giờ ngày 30/3/2022, T mang theo 01 cây kềm (loại kềm cắt) đi bộ từ nhà đến nhà của ông Phạm Thanh N ở cùng ở thôn 1, xã H, huyện H. T lén lút sử dụng kềm cắt khoen cửa bên trái nhà ông N, đột nhập vào nhà lấy trộm gồm 17 cuộn dây điện lớn nhỏ không đều (gồm 08 cuộn dây điện màu trắng, 02 cuộn dây điện màu xanh, 07 cuộn dây điện màu vàng, tất cả đã qua sử dụng của nhãn hiệu Technology KOREA, VITHAICO) đem ra ngoài cất giấu. Đến khoảng 07 giờ ngày 31/3/2022, T điều khiển xe mô-tô biển số 86F6-4903 mang số dây điện trộm cắp được đến bán cho bà Châu Thị M H (là người thu mua phế liệu), được số tiền là 2.400.000đ tiêu xài cá nhân hết (bà H không biết số dây điện mình mua là tài sản do phạm tội mà có). Tổng giá trị tài sản trộm cắp qua định giá là 2.192.800 đồng.

Hành vi trên của bị cáo Đỗ Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội lần đầu,khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, được bị hại bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người trưởng thành, có nhận thức đầy đủ nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài, không phải lao động nên bị cáo xem thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm tài sản của người khác gây bất bình, tạo ra T lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự địa phương. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xét bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, khắc phục toàn bộ số tiền thiệt hại, được bị hại tha thiết xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi ở ổn định, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, A định thời gian thử thách, giao cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục là đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo T nghề nghiệp không ổn định, đều lao động tự do nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6] Về dân sự: Bị hại Phạm Thanh N yêu cầu Đỗ Thanh T bồi thường thiệt hại số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường đủ số tiền và ông N không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Tòa không xem xét giải quyết.

Châu Thị M H không yêu cầu Đỗ Thanh T phải bồi thường số tiền 2.400.000 đồng mà H đã mua số dây điện của T nên Tòa không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ 01 xe mô tô, biển số 86F6 - 4903, nhãn hiệu Honda, loại Wave 110, màu sơn xanh, đã thay dàn áo, số khung xe khác để sử dụng (số khung theo như đăng ký biển số xe 86F6 - 4903 là CPCH0A2YF000941, số máy là P50FMH*Y0274816, còn số khung hiện tại là RLHH009043Y653689, số máy đã bị đục phá không rõ số, 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 015055 đứng tên Đỗ Thanh T;

Tịch thu tiêu hủy 01 cây kềm (loại kềm cắt) chiều dài 20cm, phần cán bằng nhựa màu nâu đỏ dài 13cm, có chữ GOODMAN, phần còn lại bằng sắt 07cm là công cụ phạm tội.

Tất cả hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/8/2022.

Đối với 08 cuộn dây điện màu trắng, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Technology KOREA, Vcmd: 2 x 1.5 (2 x 30/0,25), dài tổng cộng 400 mét; 02 cuộn dây điện màu xanh, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu VITHAICO, Vcmd: 2 x 1.5 (2 x 30/0,25), dài tổng cộng 76 mét; 02 cuộn dây điện màu vàng, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu VITHAICO, Vcmd: 2 x 1.5 (2 x 30/0,25), dài tổng cộng 100 mét; 05 cuộn dây điện màu vàng, lõi đồng, đã qua sử dụng, nhãn hiệu VITHAICO, Vcmd: 2 x 1.0 (2 x 32/0,20), dài tổng cộng 250 mét và 01 bao lát màu đỏ là vật chứng của vụ án, sau khi tạm giữ và làm rõ Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại toàn bộ số tài sản trên cho chủ sở hữu ông Phạm Thanh N, ông N không yêu cầu gì nên Tòa không xem xét giải quyết.

[7] Về các vA đề khác:

Đối với bà Châu Thị M H là người mua số dây điện của T nhưng khi mua H không biết đây là tài sản do T phạm tội mà có, H cũng không giúp sức hay tạo điều kiện gì để T trộm cắp tài sản nên không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đỗ Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

X phạt: Đỗ Thanh T 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính kể từ ngày tuyên án (ngày 07/9/2022).

Giao bị cáo Đỗ Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh B nơi bị cáo T cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Đỗ Thanh T

Về x l vật ch ng:

Tịch thu sung quỹ: 01 xe mô tô, biển số 86F6 - 4903, nhãn hiệu Honda, loại Wave 110, màu sơn xanh, đã thay dàn áo, số khung xe khác để sử dụng (số khung theo như đăng ký biển số xe 86F6 - 4903 là CPCH0A2YF000941, số máy là P50FMH*Y0274816, còn số khung hiện tại là RLHH009043Y653689, số máy đã bị đục phá không rõ số, 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 015055 đứng tên Đỗ Thanh T;

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kềm (loại kềm cắt) chiều dài 20cm, phần cán bằng nhựa màu nâu đỏ dài 13cm, có chữ GOODMAN, phần còn lại bằng sắt 07cm là công cụ phạm tội là vật chứng của vụ án. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22/8/2022.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Thanh T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/9/2022). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo T).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ