- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sơn Thị Xa Q - Châu T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Sơn Thị X và ông Chau T được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2022/HNGĐ - ST. Ngày: 23 - 12 - 2022. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Rực.
2. Bà Trần Thúy Kiều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Mẫn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 234/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Sơn Thị X, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp L, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Bị đơn: Ông Chau T, sinh năm 1990; địa chỉ:Ấp K, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 08/9/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Sơn Thị X trình bày:
Vào năm 2016, bà Q và ông T kết hôn với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 29/8/2016. Sau khi kết hôn, bà Q và ông T sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân cho đến nay. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Chau T. Trong quá trình chung sống, bà Q và ông T có một người con tên là Chau V, sinh ngày 02/10/2016. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Sơn Thị X.
+ Về con chung: Giao con chung tên Chau V, sinh ngày 02/10/2016 cho bà Qđược trực tiếp nuôi dưỡng và ông Tkhông phải cấp dưỡng nuôi con;
+ Về tài sản chung, nợ chung: Bà Sơn Thị X xác định trong thời gian chung sống bà Sơn Thị X và ông Chau T không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông Chau T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Chau T.
[2] Về hôn nhân: Bà Sơn Thị X và ông Chau T có đăng ký kết hôn vào ngày 29/8/2016 tại Uỷ ban nhân dân xã Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Hôn nhân của ông bà tuân thủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên pháp luật công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Sơn Thị X và ông Chau T là hợp pháp.
Bà Sơn Thị X vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án xin được ly hôn với ông Chau T. Xét yêu cầu của bà Sơn Thị X Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng về những sinh hoạt trong cuộc sống. Từ khi nguyên đơn chính thức yêu cầu xin ly hôn cho đến nay, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý cho ông Chau T và giữa bà Sơn Thị X, ông Chau T từ khi sống ly thân từ tháng 05/2020 cho đến nay nhưng hai bên không tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng và phù hợp với biên bản xác minh ngày 17/11/2022 về tình trạng hôn nhân giữa bà Sơn Thị X, ông Chau T của Tòa án nhân dân huyện Long Phú. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Sơn Thị X và ông Chau T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Sơn Thị X được ly hôn với ông Chau T.
Về con chung: Bà Sơn Thị X yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Chau V, sinh ngày 02/10/2016. Xét thấy, hiện nay cháu Chau V đang sống với bà Qvà để ổn định cuộc sống, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Cường. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Qlà người được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Chau V, sinh ngày 02/10/2016 là có căn cứ.
Ông Chau T có quyền thăm nom cháu Chau V, sinh ngày 02/10/2016 không ai được cản trở và bà Sơn Thị X có quyền thăm nom cháu Chau V, sinh ngày 02/10/2016 theo khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Sơn Thị X cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Chau T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Chau V, sinh ngày 02/10/2016 theo khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Qkhông yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống bà Sơn Thị X cho rằng trong thời gian chung sống bà và ông Chau T không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Trong quá trình chung sống bà Sơn Thị X cho rằng bà và ông Chau T không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bà Sơn Thị X phải chịu án phí theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Như đã phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú về đề nghị giải quyết về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
`
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Bà Sơn Thị X và ông Chau T được ly hôn.
2. Về con chung: Bà Sơn Thị X được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Chau V, sinh ngày 02/10/2016. Ông Chau T không cấp dưỡng nuôi cháu Chau V do bà Sơn Thị X không yêu cầu. Ông Chau T có quyền thăm nom cháu Chau V, sinh ngày 02/10/2016 không ai được cản trở.
Bà Sơn Thị X cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Chau T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Chau V, sinh ngày 02/10/2016.
3. Về tài sản chung: Bà Sơn Thị X xác định trong thời gian chung sống bà Qvà ông Tkhông có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Bà Sơn Thị X xác định trong thời gian chung sống bà Qvà ông Tkhông có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Sơn Thị X phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004518 ngày 23/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Phú. Như vậy, bà Sơn Thị X đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Chau T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - VKSND huyện Long Phú; - Các đương sự; - UBND xã Long Phú; - Chi cục T.H.A DS huyện Long Phú; - Tòa án tỉnh Sóc Trăng (PKTNV và THA) - Lưu (HS, VP). | Dương Thị Thanh Hoa |