vanban.org

Bản án 95/2022/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 05/04/2022 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.

Các ông, bà: Vì Văn S, Lò Văn M, Vì Trọng Đ, Lò Thanh T, Lò Văn N, Hà Văn H1, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Mạnh H4, Vì Văn P, Bùi Thị H2, Vì Thị C, Giàng A L, mỗi người pH3 nộp 300.000 đồng án phí phúc thẩm; xác nhận ông Lò Văn N đã nộp số tiền trên và nộp thay 12 đương sự kháng cáo số tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khởi kiện quyết định thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư"
  • Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 95/2022/HC-PT
Ngày 05-4-2022
V/v: khởi kiện quyết định thu hồi
đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tất Nam;

Các Thẩm phán: bà Phan Thị Vân Hương;

ông Nguyễn Thế Lệ.

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: ông Lê Song Lê

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 05 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ L số 644/2020/TLPT-HC ngày 15 tháng 12 năm 2020 về khởi kiện quyết định thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, do có kháng cáo của người khởi khởi kiện đối với Bản án số 07/2020/BAST-HC ngày 17-9-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2268/2022/QĐPT-HC ngày 17-3-2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện:

+ Các ông Vì Văn S; Lò Văn M; Vì Trọng Đ; Lò Thanh T; Lò Văn N; Hà Văn H1; Vì Văn P, Bùi Thị H2, Vì Văn C và Giàng A L; đều trú tại: tiểu khu CĐ, thị trấn NTM, huyện MC, tỉnh Sơn La. Ông Lò Văn N, có mặt; các đương sự khác vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị H3, địa chỉ: tiểu khu 68, thị trấn NTM, huyện MC, tỉnh Sơn La, có mặt.

+ Ông Nguyễn Ngọc T2, địa chỉ: tiểu khu 34, xã ĐS, huyện MC, tỉnh Sơn La, có mặt.

+ Ông Nguyễn Mạnh H4, địa chỉ: tiểu khu B, thị trấn NTM, huyện MC, tỉnh Sơn La, có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích H2 pháp cho những người khởi kiện: các Luật sư Vũ Thị N và Lương Đức C - Văn phòng luật sư C, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La. Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Quang H - Phó Chủ tịch (theo ủy quyền); có mặt.

- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp:

+ Ông Trần Hoàng K - Trưởng phòng tài nguyên - môi trường; có mặt.

+ Ông Nguyễn Hồng T - Trưởng phòng lao động, thương binh, xã hội; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, tỉnh Sơn La. Người đại diện H2 pháp: ông Phạm Quang P - Phó Giám đốc (theo ủy quyền); có mặt.

+ Các ông, bà: Lò Thị S; Vì Trọng Đ; Vì Văn Đ; Vì Thị Thu H; Bàn Thị P; Hà Thị L; Lò Xuân Đ; Lò Thị Ngọc A; Vì Văn A; Ngần Thị M; Hoàng Thị M; Lường Thị Bích N; Lò Thanh ; Lò Thị T; Lò Thị Thanh H; Lò Thị H; Đinh Thị B; Lò Thị X, Vì Văn T, Vì Văn T, Lường Văn Đ, Hà Thị N, Lường Văn T; Lường Văn H, Lường Văn H; Lò Thị T, Hoàng Thị T; đều trú tại: tiểu khu CĐ, thị trấn NTM, huyện MC, tỉnh Sơn La; các đương sự đều vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Mạnh H; địa chỉ: xã Châu Quang, huyện Quỳ H2, tỉnh Nghệ An, vắng mặt .

+ Ông Nguyễn Đăng D; bà Nguyễn Thị C và bà Nguyễn Thị H; đều trú tại: tiểu khu 68, thị trấn NTM, huyện MC, tỉnh Sơn La; vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị N; bà Nguyễn Thị Thu N và ông Hoàng Ngọc H; đều trú tại: tiểu khu 34, xã ĐS, huyện MC, tỉnh Sơn La, vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị T; địa chỉ: tiểu khu Bệnh viện II, thị trấn NTM, huyện MC, tỉnh Sơn La; vắng mặt.

+ Các ông, bà Lầu Thị D; Sùng Thị S; Giàng Thị G; Sồng Thị X; Giàng Thị D; Giàng Thị G và Giàng A T; đều trú tại: bản CĐ 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; các đương sự đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Những người khởi kiện trình bày: nguồn gốc sử dụng đất mà nhà nước thu hồi, gia đình những người khởi kiện đã sinh sống, truyền từ đời ông cha đến đời con cháu, làm nương rẫy và trồng lúa là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình. Năm 2000, các hộ gia đình sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện MC cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai, kể từ đó cho đến khi có quyết định thu hồi đất của UBND huyện V, tỉnh Sơn La.

Ngày 29-12-2017, UBND huyện V ban hành Quyết định số 1821/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất với giá đất trồng cây hàng năm là 26.400 đồng/m2; giá đất trồng cây lâu năm là 26.400 đồng/1m2; giá đất ruộng một vụ là 27.600 đồng/m2; đất nuôi trồng thủy sản là 38.400 đồng/m2 và theo Công văn số 3007/UBND-KT ngày 30-8-2018 của UBND tỉnh Sơn La quy định hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm, hỗ trợ khác. Tổng giá trị các hộ gia đình được bồi thường giá đối với đất trồng cây hàng năm là 92.400 đồng/m2; đất trồng cây lâu năm là 92.400 đồng/m2; đất ruộng 1 vụ là 96.600 đồng/m2 và đất nuôi trồng thủy sản là 134.400 đồng/m2.

Ngày 29-11-2018, UBND huyện V ban hành Quyết định số 2333/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của 26 hộ gia đình, cá nhân tại bản CĐ 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La, tổng diện tích đất thu hồi là 48.949,3 m2. Trong đó, đất trồng cây hàng năm là 18.763 m2; đất trồng cây lâu năm là 9.953,2 m2; đất lúa 1 vụ là 20.109,4 m2 và đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt là 123,7 m2. Mục đích: “Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng”. Thực hiện dự án “Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La”.

Ngày 30-11-2018, UBND huyện V đã ban hành Quyết định số 2334/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư với tổng số tiền bồi thường hỗ trợ là 5.498.345.000 đồng; trong đó bồi thường về đất là 3.559.752.000 đồng; bồi thường hỗ trợ cây cối hoa màu là 209.870.000 đồng; bồi thường tài sản trên đất là 391.768.000 đồng và hỗ trợ khác là 1.229.144.000 đồng.

Ngày 22-11-2019, UBND huyện V ban hành Quyết định số 1496/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất của 14 hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La, tổng diện tích thu hồi là 31.796,9 m2 thuộc bản CĐ 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La với lý do không chấp hành quyết định thu hồi đất của UBND huyện V, tỉnh Sơn La.

Khu vực đất bị thu hồi có vị trí thuận lợi để làm nhà ở, đất kinh doanh buôn bán để tăng thu nhập cho gia đình, T giáp gần đường QL6; để sử dụng đất, các hộ gia đình, cá nhân đã phải bỏ công sức, tiền bạc để cải tạo, san lấp mặt bằng, hình thành đất thương mại, dịch vụ từ trước khi có dự án. Bên cạnh dự án là nhà ở của các hộ dân đã sinh sống, các hộ kinh doanh buôn bán và có hai đến ba dự án tư nhân đã và đang thực hiện. Nay UBND huyện V chọn dự án trên để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La theo phương án đền bù giá đất của Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La quy định gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các hộ gia đình bị thu hồi đất; những người người khởi kiện không nhất trí bàn giao đất cho UBND huyện V vì những lý do sau:

Thứ nhất, đối với dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La: dự án này không thuộc một trong các danh mục dự án theo đúng quy định tại Điều 62 của Luật đất đai 2013. Tên của dự án do UBND huyện V triển khai không đúng với tên được ghi trong nghị quyết của HĐND tỉnh Sơn La “Dự án trung tâm điều dưỡng người có công với cách mạng”, gây nhầm lẫn cho các hộ gia đình. Dự án chỉ phục vụ duy nhất một đối tượng là người có công với cách mạng thuộc tỉnh Sơn La, hoặc các tỉnh lân cận, nếu có nhu cầu; không mang tính cộng đồng; do đó, việc đền bù về giá đất phải theo giá thị trường, không thể áp theo giá của nhà nước.

Thứ hai, đối với Quyết định thu hồi đất số 2333/QĐ-UBND ngày 29-11-2018 của UBND huyện V để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La: các hộ dân khởi kiện không nhận được quyết định thu hồi đất có dấu đỏ, giáp lai từng trang mà chỉ nhận được bản photo; dự án nhằm mục đích đền ơn đáp nghĩa, không có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế

- xã hội của địa phương. Do đó, UBND huyện V đã không thực hiện đúng trình tự bàn giao quyết định cho các hộ dân, thu hồi đất không đúng quy định của luật đất đai.

Thứ ba, đối với Quyết định số 2334/QĐ-UBND về việc “Phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La”: Việc phê duyệt, tính giá bồi thường không phù hợp với quy định của pháp luật và của Hội đồng nhân dân tỉnh; Quyết định này đã bị các hộ dân khiếu nại; tuy nhiên, Văn bản trả lời số 278/TB-VPUB của Văn phòng UBND tỉnh Sơn La nêu kết luận của Phó chủ tịch UBND tỉnh Sơn La là chỉ đạo trái pháp luật, gây thiệt hại đến quyền lợi của người dân. UBND huyện V đã áp giá quá thấp so với giá thực tế, không phù H2 với khung giá đất tại thời điểm hiện tại, do vị trí đất T giáp ngay đường QL6, thuộc vị trí đất thương mại, dịch vụ; ngay cạnh dự án liền kề, việc bồi thường giá đất trồng lúa một vụ là 192.400 đồng/1m2; đất trồng cây hàng năm khác là 185.000 đồng/m2 và giá đất nuôi trồng thủy sản là 264.400 đồng/m2. Do đó, việc áp giá bồi thường của UBND huyện V đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của những người dân có đất bị thu hồi.

Thứ tư, đối với Quyết định số 1496/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất của 14 hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La: UBND huyện V thực hiện cưỡng chế, thu hồi đất trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày ra quyết định; chưa đảm bảo thời hạn 30 ngày để người dân thực hiện quyền khiếu nại các quyết định của UBND. Do đó, việc cưỡng chế thu hồi đất là trái pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp cho các hộ gia đình có đất bị cưỡng chế.

Với những nội dung nêu trên, những người khởi kiện đề nghị Tòa án:

- Tuyên hủy Quyết định số 2333/QĐ-UBND ngày 29-11-2018 của UBND huyện V về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia công cộng dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

- Tuyên hủy Quyết định số 2334/QĐ-UBND ngày 30-11-2018 của UBND huyện V về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

- Trường hợp giữ nguyên Quyết định thu hồi đất, đề nghị UBND huyện V phải bồi thường giá đất cho các hộ dân theo giá thị trường để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho những người khởi kiện.

Người bị kiện - UBND huyện V trình bày:

Để triển khai thực hiện dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La; ngày 29-11-2018 và ngày 30-11-2018, UBND huyện V đã ban hành hai quyết định gồm:

Quyết định số 2333/QĐ-UBND ngày 29-11-2018 của UBND huyện V về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia công cộng dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

Quyết định số 2334/QĐ-UBND ngày 30-11-2018 của UBND huyện V về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

Do không nhất trí với phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La. Ngày 22-11-2019, UBND huyện V ra Quyết định số 1496/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với 14 hộ gia đình, các nhân thuộc dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

Việc thu hồi đất: phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La. UBND huyện V đã thực hiện đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật đất đai, các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành Luật đất đai của Chính phủ và các văn bản quy định của tỉnh Sơn La.

UBND huyện V đã thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường giá đất theo đúng quy định của pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La. Do đó, UBND huyện V không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của 13 người khởi kiện.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Sở lao động thương binh và xã hội trình bày:

Dự án đầu tư xây dựng Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La là dự án do Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất để thực hiện điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho người có công trên địa bàn tỉnh và các địa phương khác trong cả nước, nhằm tri ân người có công đã hy sinh một phần xương máu, sức khỏe của mình trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, được Bộ lao động thương binh và xã hội quy hoạch tại Quyết định số 1561/QĐ-LĐTBXH ngày 28-10-2015 về việc phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới các Trung T2 nuôi dưỡng, điều dưỡng thương binh và người có công trong cả nước giai đoạn đến năm 2020. Ngày 07-4-2016, Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội đã phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La tại Quyết định số 439/QĐ-LĐTBXH; ngày 28-10-2016 Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La tại Quyết định số 1496/QĐ-LĐTBXH; ngày 09-11-2018 Bộ trưởng phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng công trình và kế hoạch lựa chọn nhà thầu dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La tại Quyết định số 1591/QD-LĐTBXH.

Ngày 04-8-2016, Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La ban hành Nghị quyết số 15/NQ-HĐND về việc chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng và thông qua danh mục dự án nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh, trong đó có dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La. UBND huyện V đã triển khai thực hiện thu hồi đất theo đúng quy định của pháp luật và bàn giao mặt bằng cho Sở lao động thương binh và xã hội triển khai thực hiện dự án.

Để đảm bảo tiến độ xây dựng công trình sớm hoàn thành đưa vào sử dụng, đáp ứng được nhu cầu điều dưỡng cho người có công trên địa bàn tỉnh và các địa phương khác trong cả nước; Sở lao động thương binh và xã hội đề nghị T tục cho triển khai thi công xây dựng công trình Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La. Theo các tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện, người bị kiện gửi kèm theo có trong hồ sơ vụ án, thể hiện vụ án có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác, những người này đều là các thành viên trong gia đình của những người khởi kiện, diện tích đất bị thu hồi đều do các thành viên trong hộ gia đình cùng canh tác, sản xuất, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất, nên đều được xác định có liên quan khi nhà nước thu hồi đất. Quá trình giải quyết vụ án, đều đã có ý kiến của những người khởi kiện, đại diện gia đình, thay mặt những người liên quan trình bày quan điểm và yêu cầu đối với Tòa án. Do đó, ý kiến của những người liên quan này đồng nhất với ý kiến của những người khởi kiện.

Tại Bản án số 07/2020/BAST-HC ngày 17-9-2020, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đã căn cứ điểm b khoản 1 Điều 58; điểm c khoản 3 Điều 62; khoản 2 Điều 66; Điều 69; Điều 74; Điều 75; Điều 83; Điều 84; Điều 90; Điều 93 Luật đất đai 2013; Điều 29; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính; quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người khởi kiện gồm các ông, bà: Vì Văn S, Lò Văn M, Vì Trọng Đ, Lò Thanh T, Lò Văn N, Hà Văn H1, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Mạnh H4, Vì Văn P, Bùi Thị H2, Vì Thị C, Giàng A L đối với yêu cầu hủy Quyết định số 2333/QĐ-UBND ngày 29-11-2018 của UBND huyện V về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia công cộng - dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La; Quyết định số 2334/QĐ-UBND ngày 30-11-2018 của UBND huyện V về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La và Quyết định số 1496/QĐ-UBND ngày 22-11-2019 của Ủy ban nhân dân huyện V về việc Cưỡng chế thu hồi đất của 14 hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01-10-2020, 13 người khởi kiện có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị hủy bản án sơ thẩm, chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của các đương sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các người khởi kiện kháng cáo có mặt tại phiên tòa gồm các ông Lò Văn N, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Mạnh H4 và bà Nguyễn Thị H3 rút một phần nội dung kháng cáo, chỉ kháng cáo đề nghị xem xét lại quyết định phê duyệt phương án bồi thường, tái định cư và đồng ý với các quyết định khác.

Đối với 09 người kháng cáo vắng mặt, nhưng các đương sự đã được triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa, Luật sư Vũ Thị N bảo vệ quyền lợi cho các đương sự này xác nhận họ đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo ban đầu (không thay đổi yêu cầu kháng cáo).

Đại diện người bị kiện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và người liên quan có mặt vẫn giữ nguyên quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án, không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện.

Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự đề nghị xem xét chấp nhận các nội dung kháng cáo hủy các quyết định liên quan đến việc thu hồi, phê duyệt phương án bồi thường và cưỡng chế thu hồi đất đối với các hộ gia đình. Luật sư bảo vệ cho 04 người kháng cáo có mặt tại phiên tòa, đề nghị chấp nhận việc rút một phần kháng cáo của họ tại phiên tòa và chấp nhận nội dung kháng cáo đối với quyết định phê duyệt phương án bồi thường, tái định cư.

Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bác các yêu cầu khởi kiện của các đương sự là đúng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, có 04 người kháng cáo có mặt thay đổi nội dung kháng cáo chỉ kháng cáo đối với quyết định phê duyệt phương án bồi thường, tái định cư, rút kháng cáo đối với các quyết định thu hồi đất và quyết định cưỡng chế, nên đề nghị bác kháng cáo của họ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đối với quyết định phê duyệt phương án bồi thường và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các quyết định thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất.

Đối với 09 người vắng mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nên đề nghị bác kháng cáo và giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đối với các đương sự này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về đối tượng, thẩm quyền và thời hiệu khởi kiện

Theo đơn khởi kiện của các ông, bà: S, M, Đ, T, N, H1 H3, T2, H4, P, H2, C, L xác định đối tượng khởi kiện là Quyết định số 2333/QĐ-UBND ngày 29-11-2018 của UBND huyện V về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia công cộng dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La và Quyết định số 2334/QĐ-UBND ngày 30-11-2018 của UBND huyện V về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La; Quyết định số 1496/QĐ-UBND ngày 22-11-2019 của UBND huyện V về việc cưỡng chế thu hồi đất của các hộ gia đình; các quyết định nêu trên đã làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của những người khởi kiện đối với các thửa đất bị thu hồi.

Quyết định số 2333/QĐ-UBND và Quyết định số 2334/QĐ-UBND được UBND huyện V ban hành lần lượt vào các ngày 29-11-2018, 30-11-2018. UBND huyện V xác định, đã giao các quyết định trên cho các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất ngay sau khi ban hành; những người khởi kiện trình bày, trong số họ có người nhận được quyết định bản có dấu đỏ, người nhận được quyết định bản photocopy, nhưng không nhớ cụ thể thời gian nhận quyết định. Theo các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, không thể hiện cụ thể việc bàn giao các quyết định này giữa UBND huyện V và 13 người khởi kiện. Tuy nhiên, tại văn bản nêu ý kiến của những người khởi kiện đề ngày 25-02-2020 đã thể hiện rõ thời điểm những người khởi kiện nhận được các quyết định hành chính nêu trên là vào thời điểm cuối năm 2018; đến ngày 17-12-2019, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La nhận được đơn khởi kiện của ông Vì Văn S và 12 người khởi kiện. Như vậy, việc khởi kiện của các đương sự là bảo đảm thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

. Về phạm vi xét xử phúc thẩm: sau khi xét xử sơ thẩm, 13 người khởi kiện có đơn kháng cáo cùng về nội dung là đề nghị chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện. Mặc dù, tại phiên tòa, có 04 người kháng cáo có mặt đã rút 01 phần nội dung kháng cáo về việc yêu cầu hủy các quyết định về thu hồi và cưỡng chế thu hồi đất; tuy nhiên, trong vụ án còn 09 người vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo ban đầu, trong đó có nội dung 04 đương sự đã rút kháng cáo nên trong trường hợp này không thuộc trường hợp đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần đã rút kháng cáo.

. Ngày 15-5-2020, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đã tiến hành xem xét, thẩm định diện tích đất bị thu hồi của 13 người khởi kiện thuộc dự án Trung T2 người có công tỉnh Sơn La; tại buổi công bố kết quả thẩm định, đo đạc vào ngày 04-6-2020; các đương sự đã được trực T xem, sao chụp Mảnh trích đo địa chính số 01/2020, Hệ tọa độ VN-2000, địa chỉ: bản CĐ, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La và đều nhất trí với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ. Cùng ngày 15-5-2020, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đã tiến hành thẩm định giá diện tích đất bị thu hồi; kết quả xác định: tại thời điểm Hội đồng định giá tiến hành khảo sát, định giá các thửa đất đã bị thu hồi theo Quyết định số 2333/QĐ-UBND ngày 29-11-2018 của UBND huyện V, các thửa đất không còn hiện trạng theo mục đích sử dụng và ranh giới ban đầu. Do đó, Hội đồng định giá trong tố tụng không có cơ sở để định giá đất tại thời điểm tiến hành định giá. Sau khi Hội đồng định giá trong tố tụng công bố kết quả định giá, những người khởi kiện không nhất trí và đề nghị Tòa án tiến hành định giá lại. Tại Công văn trả lời số 939/CV-HC ngày 09-6-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đã nêu: căn cứ khoản 5 Điều 91 Luật tố tụng hành chính quy định: “Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường H2 có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù H2 với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án hành chính.” Tuy nhiên, những người khởi kiện không cung cấp được căn cứ chứng M về việc “Kết quả định giá lần đầu không chính xác” hoặc “không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án hành chính”. Do đó, không có căn cứ để định giá lại tài sản.

. Về nội dung các quyết định hành chính bị khởi kiện

- Đối với Quyết định số 2333/QĐ-UBND ngày 29-11-2018 của UBND huyện V về việc thu hồi đất để phát triển kinh tế, xã hội

Dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La đã được Bộ lao động thương binh và xã hội phê duyệt tại Quyết định số 807/QĐ-LĐTBXH ngày 04-7-2011 của Bộ Trưởng Bộ lao động - thương binh và xã hội (TBXH) về việc bổ sung quy hoạch các trung tâm điều dưỡng người có công trong cả nước đến năm 2015. Ngày 19-10-2011, Sở lao động - thương binh và xã hội; Sở xây dựng; UBND huyện MC (chưa tách huyện V) và các ban ngành có liên quan tiến hành khảo sát thực địa và thống nhất lựa chọn khu đất dự kiến xây dựng Trung tâm điều dưỡng người có công tại huyện MC tại vị trí Km 179 QL6 (về phía bên trái tuyến hướng Hà Nội - Sơn La), hiện trạng lô đất là đất nương và đất nông nghiệp, diện tích khoảng 5,0 ha.

Ngày 28-10-2015, Bộ lao động - thương binh xã hội ban hành Quyết định số 1561/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới các Trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng thương binh và người có công trong cả nước giai đoạn đến năm 2020, quy mô 80 giường.

Ngày 07-4-2016, Bộ lao động - thương binh xã hội ban hành Quyết định số 439/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

Trên cơ sở các quyết định của Bộ lao động - thương binh và xã hội, ý nghĩa và tầm quan trọng của dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La: ngày 04-8-2016, Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La ban hành Nghị quyết số 15/NQ-HĐND về việc chuyển mục đích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng và thông qua danh mục dự án nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Sơn La; trong đó có dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La với diện tích đất thu hồi 5,0 ha.

Ngày 15-9-2016, UBND huyện V cấp giấy phép quy hoạch số 09/GPQH để có cơ sở thiết kế, lập dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La; ngày 28-10-2016, Bộ lao động - thương binh và xã hội ban hành Quyết định số 1496/QĐ-LĐTBXH về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

Ngày 14-12-2016, Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La ban hành Nghị quyết số 32/NQ-HĐND về việc chuyển mục đích đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng và thông qua danh mục dự án Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Sơn La, trong đó Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La nhất trí chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với 2,2 ha đất trồng lúa sang thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

UBND huyện V đã căn cứ quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 58 Luật đất đai năm 2013 về điều kiện giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư. Cụ thể:

“1. Đối với dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng vào các mục đích khác mà không thuộc trường H2 được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ được quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất khi có một trong các văn bản sau đây:

b) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đối với trường H2 chuyển mục đích sử dụng dưới 10 héc ta đất trồng lúa; dưới 20 héc ta đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng”; quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật đất đai năm 2013 về thẩm quyền thu hồi đất.

“2. Ủy ban nhân dân cấp huyện Quyết định thu hồi đất trong các trường H2 sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu

nhà ở tại Việt Nam”.

Mục tiêu đầu tư dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La nhằm tri ân và quan tâm, chăm sóc những người có công với cách mạng và thân nhân của họ, hướng tới mở rộng đầu tư cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện điều dưỡng luân phiên cho người có công của tỉnh Sơn La và một số địa phương trong khu vực khi có nhu cầu. Như vậy, đây là công trình phục vụ hoạt động chăm sóc sức khỏe của một bộ phận cộng đồng, dân cư, phù H2 với mục đích thu hồi đất quy định tại điểm c khoản 3 Điều 62 của Luật đất đai 2013.

Trình tự đo đạc, kiểm đếm, thu hồi đất được thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật đất đai 2013 như sau:

- Ngày 22-02-2017, UBND huyện V đã ban hành Kế hoạch số 392/KH-UBND về việc thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thực hiện xây dựng dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La và Thông báo 393/TB-UBND thông báo chủ trương thu hồi đất để xây dựng dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La;

- Tổ chức họp thông báo công khai chủ trương thu hồi đất để triển khai dự án; thông báo rõ các chế độ chính sách, đơn giá, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đến các hộ gia đình bị ảnh hưởng của dự án và lãnh đạo bản, tiểu khu.

- Tổ chức đo đạc, thống kê đất đai, tài sản cây cối hoa màu, thiết lập hồ sơ, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ theo quy định, tiến hành niêm yết công khai kết quả tại trụ sở UBND xã, các điểm sinh hoạt chung tại khu đất thu hồi và thông báo đến đến các hộ gia đình bị thu hồi đất.

- Trong quá trình thực hiện, UBND huyện V đã thu ý kiến của các hộ gia đình bị thu hồi đất về việc xem xét đơn giá bồi thường về đất còn thấp, UBND huyện đã có tờ trình xin ý kiến UBND tỉnh về mức hỗ trợ thêm cho các hộ gia đình bị thu hồi đất.

- Ngày 30-8-2018, UBND tỉnh có Công văn số 3007/UBND-KT nhất trí cho phép UBND huyện V tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng…, để thực hiện xây dựng dự án như sau:

Về giá đất để tính tiền bồi thường: nhất trí với Tờ trình số 2373/TTr-UBND ngày 15-8-2018 của UBND huyện V .

Về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm: mức hỗ trợ bằng 02 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của UBND tỉnh.

Về hỗ trợ khác: hỗ trợ bằng tiền, mức hỗ trợ bằng 01 lần giá đất nông ngH1 cùng loại trong bảng giá đất của UBND tỉnh.

Trên cơ sở đó UBND huyện V đã giao cho các phòng, ban chuyên môn thực hiện quy trình lập hồ sơ bồi thường, hỗ trợ cho các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất để thực hiện dự án. Như vậy, mục đích, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thu hồi đất của UBND huyện V đã thực hiện đúng theo quy định của Luật đất đai 2013 và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh.

- Đối với Quyết định số 2334/QĐ-UBND ngày 30-11-2018 của UBND huyện V về việc Phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư

Ngày 30-8-2018, UBND tỉnh Sơn La ban hành Công văn số 3007/UBND-KT về việc giải quyết vướng mắc về bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng dự án: Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

Để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng dự án UBND huyện V đã ban hành Quyết định số 1821/QĐ-UBND ngày 29-12-2017 về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, với giá đất cụ thể như sau: đất trồng cây hàng năm là: 26.400 đồng/m2; đất trồng cây lâu năm là: 26.400 đồng/m2; đất ruộng 1 vụ là: 27.600 đồng/m2; đất nuôi trồng thủy sản là: 38.400 đồng/m2.

Theo đó, để bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ khác (Theo CV số 3007/UBND-KT ngày 30/8/2018 của UBND tỉnh) cho 1 m2 đất bao gồm: giá đất cụ thể + hỗ trợ chuyển đổi nghề ngH1 và tìm kiếm việc làm bằng 02 lần giá đất nông ngH1 cùng loại trong bảng giá đất của UBND tỉnh + hỗ trợ khác bằng 01 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của UBND tỉnh, cụ thể:

+ Đất trồng cây hàng năm là: 26.400 + 44.000 + 22.000 = 92.400đồng/m2.

+ Đất trồng cây lâu năm là: 26.400 + 44.000 + 22.000 = 92.400 đồng/m2.

+ Đất ruộng 1 vụ là: 27.600 + 46.000 + 23.000 = 96.600 đồng/m2.

+ Đất nuôi trồng thủy sản là: 38.400 + 64.000 + 32.000 = 134.400đồng/m2

Để bồi thường về đất + hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm + hỗ trợ khác được áp dụng cho 1 ha đất là:

+ Đối với đất trồng cây hàng năm là: 924.000.000 đồng/ha.

+ Đối đất trồng cây lâu năm là: 924.000.000 đồng/ha.

+ Đối với đất ruộng 1 vụ là: 966.000.000 đồng/ha.

+ Đối với đất nuôi trồng thủy sản là: 1.344.000.000 đồng/ha.

Quá trình giải quyết vụ án, những người khởi kiện có sự so sánh, chênh lệch về giá bồi thường, hỗ trợ giữa dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La tại huyện V với dự án xây dựng Khu nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ về nông nghiệp, lâm nghiệp tại huyện MC, tỉnh Sơn La (gần địa điểm thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La).

Căn cứ vào điều kiện thực tiễn và các yếu tố về lợi thế địa L đối với khu đất thu hồi để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La tại huyện V. Ngày 15-8-2018, UBND huyện V đã lập Tờ trình số 2373/TTr-UBND xin ý kiến UBND tỉnh về giá đất bồi thường, mức hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La, tại huyện V.

Tại Văn bản số 3007/UBND-KT ngày 30-8-2018 của UBND tỉnh Sơn La, Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La nhất trí theo đề xuất của UBND huyện V tại Tờ trình số 2373/TTr-UBND ngày 15-8-2018.

Như vậy, việc UBND huyện V áp dụng mức bồi thường giá đất cụ thể + hỗ trợ chuyển đổi nghề ngH1 và tìm kiếm việc làm bằng 02 lần giá đất nông ngH1 cùng loại + hỗ trợ khác bằng 01 lần giá đất nông nghiệp cùng loại (Trong bảng giá đất của UBND tỉnh Sơn La) đã bảo đảm quyền, lợi ích H2 pháp của các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất khi Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án Trung T2 ddiều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

Tính đến ngày 19-11-2019, có 12/26 hộ gia đình, cá nhân đã nhận tiền bồi thường với số tiền là 2.125.883.000 đồng. Số hộ chưa nhất trí nhận tiền bồi thường là 14 hộ, với số tiền 3.264.651.000 đồng; trong đó có 13 người khởi kiện trong vụ án, vì cho rằng đơn giá bồi thường của UBND huyện V thấp; sau khi xét xử sơ thẩm, theo báo cáo số 64/BC-UBND ngày 11-02-2022 của UBND huyện V thì trong số 13 hộ khởi kiện chỉ còn 03 hộ chưa nhận tiền bồi thường.

Xét thấy: giá đất và phương án hỗ trợ bồi thường của UBND huyện V đã tuân thủ đúng quy định tại các điều 74, 75, 83, 84, 90 và 93 của Luật đất đai 2013; đồng thời việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm bằng 02 lần giá đất nông nghiệp cùng loại và hỗ trợ khác bằng 01 lần giá đất nông nghiệp cùng loại cho các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất đã đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các hộ dân bị thu hồi đất. Việc 13 người khởi kiện so sánh đơn giá bồi thường giữa các dự án khác nhau (Dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La được xây dựng tại địa bàn huyện V với Dự án xây dựng Khu nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ về nông nghiệp, lâm nghiệp tại địa bàn huyện MC, tỉnh Sơn La) và yêu cầu bồi thường đất theo giá thị trường là không có căn cứ.

- Đối với Quyết định số 1496/QĐ-UBND ngày 22-11-2019 của UBND huyện V về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

Do các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất để thực hiện dự án Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La không chấp hành quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án nên ngày 22-11-2019, UBND huyện V ban hành Quyết định số 1496/QĐ-UBND về việc Cưỡng chế thu hồi đất của 14 hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án. Tại Quyết định ghi rõ: “1) Diện tích đất bị cưỡng chế của 14 hộ gia đình, cá nhân là 31.796,9 m2; Địa điểm thửa đất: bản CĐ 1, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; 2) Thời gian thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất chậm nhất sau 30 ngày làm việc tính từ ngày quyết định này có hiệu lực thi hành...”.

Ngày 10-12-2019, Ban chỉ đạo thực hiện Cưỡng chế thu hồi đất - UBND huyện V ra Thông báo Cưỡng chế thu hồi đất theo Quyết định số 1496/QĐ-UBND ngày 22/11/2019 của Ủy ban nhân dân huyện V. Tại Thông báo số 05/TB-BTHCC ngày 10-12-2019 của Ban chỉ đạo thực hiện Cưỡng chế thu hồi đất ghi rõ: “1) Đối tượng cưỡng chế thu hồi đất; 2) Thời gian, địa điểm cưỡng chế thu hồi đất: 08 giờ 30 phút, ngày 19/12/2019... và yêu cầu của Ban chỉ đạo thực hiện Cưỡng chế thu hồi đất ”.

Việc những người khởi kiện cho rằng, UBND huyện V ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và thực hiện việc Cưỡng chế thu hồi đất trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày ra quyết định là chưa đảm bảo đúng và đủ thời gian để các hộ gia đình, cá nhân có đất bị cưỡng chế thu hồi thực hiện quyền khiếu nại của mình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp cho các hộ gia đình có đất bị cưỡng chế thu hồi là không có căn cứ, vì: “Thời gian thực hiện việc cưỡng chế thu hồi đất chậm nhất sau 30 ngày làm việc tính từ ngày quyết định này có hiệu lực thi hành”; đây là thời hạn mà UBND huyện V giao cho Ban chỉ đạo thực hiện việc Cưỡng chế thu hồi đất phải hoàn thành việc cưỡng chế thu hồi đất.

Với các lí do trên, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bác các yêu cầu khởi kiện của các đương sự là đúng; do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các người khởi kiện. Những người khởi kiện phải chịu chi phí tố tụng, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.

Tuy nhiên, trong vụ án này chỉ có 13 hộ gia đình, cá nhân có quyết định thu hồi đất, bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất có đơn khởi kiện vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bác yêu cầu khởi kiện đối với 14 hộ gia đình, cá nhân là không đúng nên cần sửa lại phần này cho chính xác.

. Các người khởi kiện kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bác kháng cáo của các người khởi kiện và giữ nguyên quyết định của Bản án số 07/2020/BAST-HC ngày 17-9-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La như sau: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 58; điểm c khoản 3 Điều 62; khoản 2 Điều 66; Điều 69; Điều 74; Điều 75; Điều 83; Điều 84; Điều 90; Điều 93 Luật đất đai 2013; Điều 29; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính, bác yêu cầu khởi kiện của những người khởi kiện gồm các ông, bà: Vì Văn S, Lò Văn M, Vì Trọng Đ, Lò Thanh T, Lò Văn N, Hà Văn H1, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Mạnh H4, Vì Văn P, Bùi Thị H2, Vì Thị C, Giàng A L đối với yêu cầu hủy Quyết định số 2333/QĐ-UBND ngày 29-11-2018 của UBND huyện V về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia công cộng - dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La; Quyết định số 2334/QĐ-UBND ngày 30-11-2018 của UBND huyện V về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư để thực hiện dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La và Quyết định số 1496/QĐ-UBND ngày 22-11-2019 của UBND huyện V về việc cưỡng chế thu hồi đất của 13 hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án Trung T2 điều dưỡng người có công tỉnh Sơn La.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm nêu trên đã có hiệu lực pháp luật.

3. Các ông, bà: Vì Văn S, Lò Văn M, Vì Trọng Đ, Lò Thanh T, Lò Văn N, Hà Văn H1, Nguyễn Thị H3, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Mạnh H4, Vì Văn P, Bùi Thị H2, Vì Thị C, Giàng A L, mỗi người pH3 nộp 300.000 đồng án phí phúc thẩm; xác nhận ông Lò Văn N đã nộp số tiền trên và nộp thay 12 đương sự kháng cáo số tiền nêu trên vào ngày 14-10-2020 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ