- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Sỹ phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 95/2021/HSST Ngày: 30/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Kiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Duệ và bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Tuyết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2021/HSST ngày 16/11/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2021/QĐXXST-HS ngày 17/11/2021 đối với bị cáo: Phạm Văn S - sinh năm 1995, Nơi sinh: xã Đại Hùng, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn Y, xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; danh chỉ bản số 117, lập ngày 29/4/2021 tại Công an huyện Ứng Hòa; con ông Phạm Văn Cương và bà Nguyễn Thị Tự; chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 23/11/2019 bị TAND TP. Hà Nội xét xử phúc thẩm xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 15/8/2020; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Dương Văn M – Luật sư thuộc Công ty
luật Bách Dương – Đoàn Luật sư TP. Hà Nội (Có mặt)
* Người bị hại: Đỗ Tuấn A – sinh năm 1970 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn Bặt Chùa, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
* Bị đơn dân sự: Đặng Võ T – sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn Thanh Sam, xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
* Người làm chứng: Nguyễn Huy P – sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn Vũ Ngoại, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ ngày 28/02/2021, Phạm Văn S đi từ thôn Bặt Chùa, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa về nhà mình tại thôn Yên Trường, xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa; khi đi qua nhà anh Nguyễn Tuấn A ở thôn Bặt Chùa, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa thì S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định, S trèo tường phía cổng vào trong sân và đi qua khu vực xưởng may thì phát hiện có Camera nên S lấy vải ở đó che mắt camera lại. Sau đó, S đi vào phòng khách thì phát hiện tại tủ để ti vi có 01 đồng hồ đeo tay để ở đó, S lấy đồng hồ cho vào túi quần rồi đi vào buồng ngủ của anh Tuấn Anh thì phát hiện có người đang nằm ngủ, quan sát thấy có 02 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu Sam Sung A10 và A20 để ở đó, S lấy cả 02 cho vào túi quần rồi đi về nhà. Trên đường về S tháo sim của điện thoại lấy trộm được cho vào phía sau ốp lưng và tháo sim điện thoại của mình lắp sang điện thoại vừa trộm cắp được. Khi về đến nhà, S để 02 điện thoại phía đầu giường, còn đồng hồ để phía cuối giường rồi đi ngủ. Khoảng 06 giờ cùng ngày, S ngủ dậy cầm 02 điện thoại vừa lấy trộm được đi đến nhà anh Đặng Võ Thông, ở thôn Thanh Sam, xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hoà, thấy Thông đang nằm ngủ trên giường cùng Nguyễn Huy Phong ở thôn Vũ Ngoại, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, thì S ngồi ở nền nhà lấy điện thoại ra sử dụng. Một lúc sau, Phong ngủ dậy ra ghế ngồi và nói với S “đi đâu đến?” S nói “từ nhà lên”, Phong nghe thấy S có chuông điện thoại và lấy từ túi quần ra 01 điện thoại, thấy S có nhiều điện thoại thì hỏi mượn một cái để vào mạng, S đồng ý và đưa cho Phong 01 chiếc điện thoại Sam Sung màu đen. Phong đang cần điện thoại thì có chuông, S nói với Phong “đừng nghe” và giật điện thoại trên tay Phong. Cùng lúc, anh Tuấn Anh và lực lượng công an đi vào thì S bỏ điện thoại xuống nền nhà, anh Tuấn Anh vào trong nhà nói “A! máy đây rồi”. Nghe thấy tiếng mọi người nói, Thông đang nằm ngủ tỉnh dậy ngồi trên giường, lúc này anh Tuấn Anh đi đến định đánh S và Thông thì mọi người can ngăn. Lực lượng Công an yêu cầu S ngồi làm việc và yêu cầu Thông dậy mặc quần áo để làm việc. Tại chỗ, S đã khai nhận việc lấy trộm 02 điện thoại và 01 đồng hồ đeo tay. Khi công an đang lập biên bản thì Thông đi vào trong buồng mặc quần áo rồi đi ra phòng khách, lúc này S đang ngồi ở nền nhà, Thông bức xúc việc S lấy trộm điện thoại đem đến nhà làm ảnh hưởng đến mình nên Thông dùng chân trái đá một cái vào mặt S thì được mọi người can ngăn. Hậu quả: Phạm Văn S bị thương, được đưa đi khám và điều trị tại Bệnh Viện Vân Đình từ ngày 28/02/2021 đến ngày 08/3/2021.
Vật chứng thu giữ: “01 đồng hồ Casio - Edifice bằng kim loại màu trắng; 01 điện thoại di động Sam Sung A20 màu đen; 01 điện thoại di động Sam Sung A10 màu đen; 01 sim điện thoại Vina, 03 sim điện thoại Viettel (trong đó có 01 sim của S).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 14 ngày 04/3/2021, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Ứng Hoà kết luận: “Đồng hồ Casio-Edifice trị giá 1.500.000 đồng; Điện thoại di động Samsung A20 trị giá 1.300.000 đồng; Điện thoại di động Samsung A10 trị giá 1.200.000 đồng; 03 sim Viettel trị giá 75.000 đồng; 01 sim Vina trị giá 25.000 đồng”.
Tại bản kết luận giám định số 3428/C09-TT1, ngày 12/5/2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận đối với Phạm Văn S: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, đối chiếu bảng I tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế. Áp dụng nguyên tắc 1, 2 và Mục I.1, Chương 8, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với sẹo kích thước nhỏ tại mi trên mắt trái của Phạm Văn S tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: “Tổn thương tại mi trên mắt trái của Phạm Văn S do vật tày gây ra”.
Ngày 26/5/2021, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hoà (Viết tắt: CQĐT) ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần số 120 đối với Phạm Văn S. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 306 ngày 16/9/2021 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương - Bộ Y tế kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Phạm Văn S bị bệnh rối loạn cảm xúc không ổn định (suy nhược) thực tổn. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F06.6. Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Bản cáo trạng số 91/CT-VKS ngày 15/11/2021 của VKSND huyện Ứng Hòa truy tố Phạm Văn S về tội: “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (Viết tắt: BLHS). Tại phiên tòa:
- Đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 09 đến 15 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với Đặng Võ Thông đã có hành vi đánh, gây thương tích cho S, do thương tích của S là 03% nên hành vi của Thông không đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”; vì vậy, CQĐT đã ra quyết định xử lý hành chính đối với Thông là đúng và Thông phải có nghĩa vụ bồi thường trách nhiệm dân sự cho S. Tuy nhiên, bị cáo và người bào chữa cho bị cáo đề nghị tách phần dân sự để giải quyết sau nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về vật chứng: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ số tài sản bị mất và không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên không xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo qui định của pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ ra hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát; tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) xem xét tình trạng tinh thần của bị cáo đã và vẫn đang bị rối loạn, nhiều khi không làm chủ được hành vi, thực tế đã điều trị và hiện vẫn đang điều trị tại nhà và cơ sở y tế chuyên môn; xem xét thái độ hợp tác, thành khẩn khai báo; giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, đã được thu hồi trả người bị hại. Đề nghị cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm q, h, s khoản 1 Điều 51; áp dụng Điều 54 của BLHS cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất (06 tháng tù) để bị cáo sớm trở lại cuộc sống bình thường. Đối với Đặng Võ Thông là người có hành vi đánh S trong lúc lực lượng công an đang làm việc với S, gây thương tích 03 % để lại tại phần mặt của S, nhưng Thông chỉ bị xử phạt hành chính là chưa phù hợp nên Luật sư và bị cáo S đang kiến nghị, khiếu nại CQĐT. Mặt khác, do việc thu thập tài liệu, chứng cứ về yêu cầu bồi thường chưa đầy đủ nên đề nghị HĐXX tách phần liên quan đến Đặng Võ Thông ra khỏi vụ án để bị cáo S yêu cầu giải quyết sau.
- Bị cáo cũng nhất trí với quan điểm bào chữa và đề nghị của ông Mai.
- Người bị hại, bị đơn dân sự và người làm chứng đều vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các qui định của pháp luật.
Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) có đủ căn cứ xác định: Lợi dụng đêm tối lúc mọi người đang ngủ say, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, khoảng 02 giờ sáng ngày 28/02/2021, Phạm Văn S đã có hành vi lén lút trèo tường đột nhập vào trong nhà anh Đỗ Tuấn Anh ở thôn Bặt Chùa, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội lấy trộm của anh Tuấn Anh 01 chiếc đồng hồ nhãn hiệu Casio-Edifice và 02 chiếc điện thoại di động Samsung A10 và A20, bên trong điện thoại có 02 sim Viettel và 01 sim Vina. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.075.000đ (Bốn triệu, không trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) nên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Bởi vậy, cáo trạng của VKSND huyện Ứng Hòa truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản pháp luật áp dụng như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất ổn định trật tự địa phương. Đáng lưu ý, năm 2019 bị cáo đã bị xét xử và phải chấp hành hình phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành xong hình phạt về địa phương không coi đó là bài học để sửa đổi mình, khi thấy cơ hội, điều kiện lại tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ bất chấp, coi thường pháp luật. Lần phạm tội này của bị cáo khi chưa được xóa án tích nên bị coi là “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Qúa trình điều tra trong hồ sơ vụ án thể hiện trước đây năm 2012 bị cáo bị tai nạn giao thông, bị chấn thương sọ não, sau đó nhiều lần phải điều trị tại bệnh viện tâm thần, phải uống thuốc định kỳ; tuy nhiên, kết quả giám định pháp y tâm thần cho thấy trước, trong thời điểm phạm tội và tại thời điểm giám định thì bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do vậy, bị cáo phải chịu toàn bộ trách nhiệm hình sự về hành vi trộm cắp tài sản đã thực hiện ngày 28/02/2021.
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và dăn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét việc quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, hành vi phạm tội gây thiệt hại không lớn (giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn và đã hoàn trả người bị hại) nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Ngoài ra, xét việc bị cáo không có tài sản riêng, không có công việc và thu nhập, chưa có vợ, vẫn sống phụ thuộc gia đình, tình trạng sức khỏe, tinh thần có lúc không ổn định do bị di chứng, bị ảnh hưởng từ tai nạn giao thông trước đây nên có thể giảm nhẹ một phần hình phạt chính và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.
Về quan điểm, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của Luật sư bào chữa cho bị cáo có một phần phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
Đối với Đặng Võ Thông đã có hành vi đánh Phạm Văn S khi Công an đang làm việc với S; kết quả giám định S bị tổn hại 03% sức khỏe nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Ứng Hòa đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Thông. Tại thời điểm truy tố bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo có đơn yêu cầu buộc Thông phải bồi cho bị cáo tổng cộng các khoản là 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng); tuy nhiên, sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử Luật sư bào chữa cho bị cáo có đơn đề nghị HĐXX tách phần liên quan đến Đặng Võ Thông ra khỏi vụ án này để giải quyết sau, do việc bị cáo và Luật sư bào chữa đang khiếu nại CQĐT về biện pháp xử lý hành chính đối với Thông là chưa thỏa đáng; đồng thời, do các tài liệu, chứng từ liên quan đến yêu cầu bồi thường bị cáo chưa thu thập được đầy đủ. Tại phiên tòa bị cáo và Luật sư bào chữa vẫn giữ nguyên yêu cầu này. Xét thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định xử lý hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan ban hành quyết định nên HĐXX không đặt ra giải quyết trong bản án này; xét yêu cầu, đề nghị tách phần bồi thường trách nhiệm dân sự đối với Đặng Võ Thông để giải quyết sau không ảng hưởng đến kết quả giải quyết vụ án này, phù hợp với qui định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về vật chứng: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ số tài sản bị mất và không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt Phạm Văn S 09 (Chín) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Tách yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự của Phạm Văn S đối với Đặng Võ Thông. Giành quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường dân sự trong một vụ án khác.
Về vật chứng: Xác nhận việc người bị hại đã nhận lại toàn bộ số tài sản bị mất (01 đồng hồ, 02 điện thoại, 03 sim) và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Bị cáo phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - CA, VKS, THADS H.Ứng Hoà; - Bị cáo, Người bào chữa cho BC; - Người bị hại; - Lưu HS, VP./. Héi thÈm nh©n d©n | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Kiến ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ |