vanban.org

Bản án 95/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hồ Thành L, Thái Hữu K phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ Thành L 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28/10/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồ Thành L và Thái Hữu K phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hồ Thành L, Thái Hữu K phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮKLẮK
Bản án số: 95/2021/HS-ST
Ngày: 22 – 12 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiên Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Mạnh - Nguyên hiệu trưởng Trường THCS Trần Hưng Đạo (huyện CưM’gar).

2. Ông Bùi Trọng Nghĩa – Trưởng phòng tư pháp huyện CưM’gar.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CưM’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Hồ Thành L; Sinh ngày 16/10/2003, tại tỉnh Đắk Lắk

Nơi cư trú: Thôn 2, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983 và bà Hồ Thị Kim H, sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: không; tiền sự: 01, ngày 21/7/2021 bị Công an xã C, huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/10/2021, có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Thái Hữu K; Sinh ngày 07/5/2001, tại tỉnh Đắk Lắk

Nơi cư trú: Thôn 1B, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk.

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Thái Văn K, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hồ Thành L: Ông Nguyễn Đình Đ –

Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

* Các bị hại:

1/ Ông Lê Hồng P (Vắng mặt)

Địa chỉ: 45 L, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

2/ Ông Trần Ngọc D (Vắng mặt)

Địa chỉ: 19 L1, thị trấn Q, huyện C, Đắk Lắk.

3/ Cháu Lê Hồng V, sinh năm 2007 (Vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của cháu Việt: Anh Lê Văn L (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: 63A B, thị trấn Q, huyện C, Đắk Lắk.

4/ Cháu Hồ Lê Tiến Đ; sinh năm 2007 (Vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của cháu Đạt: Chị Lê Thị L (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: 30 ND, thị trấn Q, huyện C, Đắk Lắk.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Lưu Ngọc L (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 1, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

2/ Anh Nguyễn Thanh T (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn 1, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

3/ Anh Phạm Trường T (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn 1A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

4/ Cháu Nguyễn Phước Q, sinh năm 2004 (Có mặt)

Người đại diện hợp pháp của cháu Q: Bà Phan Thị P (Có mặt)

Địa chỉ: 88 L2, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 23/8/2021 đến ngày 26/8/2021, Nguyễn Hồ Thành L cùng với Nguyễn Phước Q rủ nhau thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào đêm ngày 22/8/2021 Nguyễn Hồ Thành L đến chơi và ngủ lại nhà Nguyễn Phước Q tại tổ dân phố 4, thị trấn Q, huyện C. Trước khi ngủ, L với Q rủ nhau đến khuya chờ người dân đi ngủ thì cả hai sẽ đi trộm cắp tài sản kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 1 giờ 10 phút ngày 23/8/2021, L với Q đi bộ trong các đường ở tổ dân phố 4, thị trấn Q tìm tài sản trộ cắp. Đến khoảng 02 giờ 00 phút cùng ngày, cả hai đi đến nhà anh Lê Hồng P quan sát thấy sân nhà anh P treo 01 lồng nuôi chim chích chòe lửa. Lúc này, L đứng ngoài cảnh giới, Q trèo qua cổng vào sân, mở cửa lồng chim, bắt trộm 01 con chim chích chòe lửa (bỏ lại lồng chim) mang về cất giấu tài nhà Q. Đến khoảng 10 giờ sang cùng ngày, L và Q mang con chim trộm cắp được bán cho anh Lưu Ngọc L được số tiền 200.000 đồng và cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ hai: Khoảng 3 giờ ngày 24/8/2021 L và Q đi đến nhà anh Trần Ngọc D tại 19 L1, tổ dân phố 4, thị trấn Q thấy sân nhà anh D có treo nhiều lồng nuôi nhốt chim cảnh. L bảo Q đứng ngoài cảnh giới, L trèo qua hàng rào vào sân lấy trộm các tài sản: 01 con chim chích chòe lửa được nuôi nhốt trong lồng tre tròn chiều cao 72cm; 01 con chim chích chòe than được nuôi nhốt trong lồng tre tròn chiều cao 45cm; 01 con chim vành khuyên được nuôi nhốt trong lồng tre tròn chiều cao 35cm; 01 con chim vành khuyên được nuôi nhốt trong lồng tre tròn chiều cao 35 cm rồi chuyển qua bên ngoài cho Q. Sau đó cả hai mang chim, lồng chim trộm cắp được mang về cất giấu tại nhà Q. Khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, L và Q mang tài sản trộm cắp được gồm 01 con chim chích chòe than (không bán lồng chim) và 01 con chim chích chòe lửa được nuôi nhốt trong lồng tre tròn chiều cao 72cm bán cho anh Nguyễn Thanh T được số tiền 700.000 đồng. Q và L cùng nhau tiêu xài hết số tiền trên, còn 02 con chim vành khuyên nuôi nhốt trong 02 lồng tre thì L mang về nhà nuôi. Riêng cái lồng nhốt con chim chích chòe than thì trên đường đem chim đi bán, L và Q đã vứt bỏ dọc đường.

Lần thứ ba: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 26/8/2021, L và Q rủ nhau đi bộ đến nhà anh Trần Ngọc D để trộm cắp chim cảnh. L bảo Q đứng ngoài cảnh giới, L trèo qua hàng rào vào sân, lấy trộm tài sản gồm: 01 con chim chào mào đít đỏ được nuôi nhốt trong lồng gỗ vuông, nan tre tròn chiều cao 50cm; 03 con chim cu gáy (cu đất) được nhốt chung trong lồng sắt tròn chiều cao 30cm và 01 con chim cu gáy (cu khách) được nuôi nhốt trong lồng Inox tròn chiều cao 30cm rồi chuyển ra bên ngoài cho Q. Sau đó, cả hai mang tài sản trộm cắp được về cất giấu tại nhà Q. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, L và Q mang số tài sản trộm cắp được gồm: 01 con chim chào mào đít đỏ cùng lồng nuôi nhốt chim, 04 con chim cu gáy cùng lồng Inox nhốt chim đến bán cho anh Nguyễn Thanh T với số tiền 700.000 đồng, anh Toàn đưa trước cho L với Q số tiền 200.000 đồng và còn nợ lại 500.000 đồng. Số tiền 200.000 đồng này Q và L đã sử dụng vào việc ăn, uống tiêu xài cá nhân hết. Còn cái lồng sắt tròn chiều cao 30cm đã trộm cắp được thì L, Q đã vứt bỏ dọc đường khi đi bán chim.

Ngoài ra, vào ngày 25/10/2021, Nguyễn Hồ Thành L lại tiếp tục cùng Thái Hữu K rủ nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại tổ dân phố 2, thị trấn Q, huyện C, cụ thể:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/10/2021, khi đang cùng uống cà phê thì Thái Hữu K rủ Nguyễn Hồ Thành L đi trộm xe đạp để bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân, L đồng ý. Sau đó, L và K đi bộ đến trước cổng sau Quảng trường huyện CưM’gar thấy có 05 chiếc xe đạp của người dân dựng tại đó và đang đi thể dục trong Quảng trường; L lấy trộm 01 chiếc xe đạp màu đen, hiệu Standard Chartered của cháu Hồ Lê Tiến Đ và K lấy trộm 01 chiếc xe đạp màu xanh đen, hiệu FINISS của cháu Lê Hồng V. Sau khi lấy trộm được xe đạp thì K với L mang về nhà Nguyễn Phước Q để cất giấu, đến khoảng 21 giờ cùng ngày, K với L mang xe đạp trộm cắp được về phòng trọ tại tổ dân phố 5, thị trấn Q. Đến khoảng 07 giờ ngày 26/10/2021, K rủ L mang 02 chiếc xe đạp trộm cắp được đưa đến xã Ea Mnang bán lấy tiền tiêu xài nhưng L buồn ngủ nên tiếp tục ngủ và nói với K rằng “Mày bán xe trước rồi lấy tiền tiêu xài chung, rồi tao bán xe sau sẽ cho mày cùng tiêu xài” thì K đồng ý. Sau đó, K đem xe đạp hiệu FINISS bán cho anh Phạm Trường T với giá 500.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Đến sáng ngày 27/10/2021, K biết việc mình trộm cắp xe đạp đã bị Cơ quan Công an phát hiện nên K đã xin tiền gia đình mang 500.000 đồng đi chuộc lại xe đạp và giao nộp cho Cơ quan Công an. Về phía L, khoảng 11 giờ ngày 26/10/2021 L đạp xe đi đến quán cà phê Voi để uống cà phê thì bị Công an thị trấn Q phát hiện, tạm giữ chiếc xe đạp hiệu Standard Chartered mà L đã lấy trộm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐGTS ngày 31/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản hình sự kết luận:

- 01 con chim chích chòe lửa được mua vào năm 2015, trị giá 1.000.000 đồng.

- 01 con chim chích chòe than đất được mua vào năm 2017, được nuôi nhốt trong lồng tre tròn chiều cao 45cm mua vào năm 2017, trị giá 450.000 đồng.

- 01 con chim vành khuyên được mua vào năm 2019, được nuôi nhốt trong lồng tre tròn chiều cao 35cm mua năm 2019, trị giá tài sản là 300.000 đồng.

- 01 con chim vành khuyên được mua vào năm 2019, được nuôi nhốt trong lồng tre tròn chiều cao 35cm mua năm 2019, trị giá tài sản là 200.000 đồng.

- 01 con chim chích chòe lửa được mua vào tháng 6/2020, được nuôi nhốt trong lồng tre tròn chiều cao 72cm mua vào tháng 6/2020, trị giá tài sản là 500.000 đồng.

- 01 con chim chào mào đít đỏ được mua vào năm 2019, được nuôi nhốt trong lồng gỗ vuông, nan tre tròn chiều cao 50cm mua vào năm 2019, trị giá tài sản là 400.000 đồng.

- 01 con chim cu gáy (cu đất) được mua vào năm 2020, trị giá 150.000 đồng.

- 02 con chim cu gáy (cu đất) được mua vào năm 2020, được nuôi nhốt chung trong lồng sắt tròn chiều cao 30cm mua năm 2020, trị giá tài sản là 300.000 đồng.

- 01 con chim cu gáy (cu khách) được mua vào đầu năm 2021, được nuôi nhốt trong lồng Inox tròn chiều cao 30cm mua vào đầu năm 2021, trị giá tài sản là 400.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản được định giá là 3.700.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐĐGTS ngày 27/10/2021 của Hội đồng định giá tài sản hình sự kết luận: 01 xe đạp nhãn hiệu Standard Chartered, màu xanh đen có giá trị 850.000 đồng; 01 xe đạp nhãn hiệu FINISS, màu xanh đen có giá trị 1.300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản được định giá là 2.150.000 đồng.

Đồ vật, tài liệu thu giữ gồm có: 01 con chim chích chòe lửa, 01 con chim chích chòe lửa được nhốt trong lồng tre tròn chiều cao 72cm; 01 lồng tre tròn chiều cao 35cm; 02 con chim vành khuyên được nhốt trong 01 lồng tre tròn chiều cao 35cm; 01 con chim chào mào đít đỏ được nhốt trong 01 lồng gỗ vuông, nan tre tròn chiều cao 50cm; 03 con chim cu gáy được nhốt trong 01 lồng Inox tròn chiều cao 30cm; 01 xe đạp nhãn hiệu Standard Chartered, màu xanh đen; 01 xe đạp nhãn hiệu FINISS, màu xanh đen.

Đối với 01 lồng nuôi nhốt con chim chích chòe than và 01 lồng sắt tròn chiều cao 30cm, trên đường đi bán chim cho anh T thì L, Q đã vứt bỏ dọc đường, không nhớ địa điểm cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với 01 con chim chích chòe than và 01 con chim cu gáy đã bay mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Bản cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar truy tố các bị cáo Nguyễn Hồ Thành L, Thái Hữu K về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hồ Thành L, Thái Hữu K như nội dung cáo trạng và đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hồ Thành L, Thái Hữu K phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ Thành L từ 09 đến 12 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Thái Hữu K từ 06 đến 09 thán tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 con chim chích chòe lửa cho chủ sở hữu là anh Lê Hồng P; 01 con chim chích chòe lửa được nhốt trong 01 lồng tre tròn chiều cao 72cm, 01 lồng tre tròn chiều cao 35cm, 02 con chim vành khuyên được nhốt trong 01 lồng tre tròn chiều cao 35cm, 01 con chim chào mào đít đỏ được nhốt trong 01 lồng gỗ vuông nan tre tròn chiều cao 50cm, 03 con chim cu gáy được nhốt trong 01 lồng Inox tròn chiều cao 30cm cho chủ sở hữu là anh Trần Ngọc D; 01 xe đạp màu xanh đen hiệu Standard Chartered cho cháu Hồ Lê Tiến Đ; 01 xe đạp màu xanh đen hiệu FINISS cho cháu Lê Hồng V là chủ sở hữu hợp pháp. Truy thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Hồ Thành L số tiền 550.000 đồng do bán tài sản trộm cắp mà có.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hồ Thành L trình bày ý kiến tranh luận: nhất trí về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, bố mẹ bị cáo đi làm ăn xa nên bị cáo thiếu sự quan tâm giáo dục của gia đình, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng chế định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất theo mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, đồng thời không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc truy thu của bị cáo số tiền 550.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng thời gian ngày 23/8/2021, 24/8/2021, 26/8/2021 và 25/10/2021 tại thị trấn Q, huyện C, Nguyễn Hồ Thành L (đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản của anh Lê Hồng P, Trần Ngọc D, Lê Hồng V, Hồ Lê Tiến Đ với tổng giá trị là 5.850.000 đồng; Thái Hữu K thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản của cháu Lê Hồng V, Hồ Lê Tiến Đ, trị giá tài sản là 2.150.000 đồng thì bị phát hiện, xử lý.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Hồ Thành L và Thái Hữu K đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác đồng thời gây mất ổn định trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và nhận thức để biết được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cá nhân bằng con đường bất chính nên các bị cáo đã trộm cắp tài sản của người khác. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi của mình.

Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi với mức độ khác nhau nên cần phân hòa để quyết định hình phạt tương xứng với từng bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Hồ Thành L là người đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo đã tích cực thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản với tổng trị giá 5.850.000 đồng, bị cáo Thái Hữu K thực hiện 01 vụ trộm cắp 02 xe đạp trị giá 2.150.000 đồng; do vậy bị cáo L phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo K là phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Hồ Thành L thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội gây thiệt hại không lớn. Bị cáo Thái Hữu K phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi biết việc trộm cắp tài sản đã bị phát hiện bị cáo đã đem xe đạp giao nộp cho Cơ quan Công an. Vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, riêng bị cáo K được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như đã nhận định trên, xét thấy tại thời điểm thực hiện 03 vụ trộm cắp chim cảnh bị cáo L chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội đối với bị cáo, bị cáo phạm tội nhiều lần, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo Thái Hữu K, bị cáo phạm tội lần đầu, giá trị tài sản trộm cắp không lớn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt đối với bị cáo, về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét ý kiến của người bào chữa về các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trong vụ án này, đối với hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Phước Q: xét thấy, Q chưa có tiền án, tiền sự, các lần trộm cắp tài sản đều dưới 2.000.000 đồng nên hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Phước Q chưa đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 14/9/2021 Công an huyện CưM’gar đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Phước Q về hành vi trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/NĐ-CP của Chính Phú, mức phạt 750.000 đồng. Ngày 14/10/2021 Nguyễn Phước Q đã chấp hành xong nộp phạt. Quá trình điều tra xác định Q không đồng phạm trong việc bàn bạc trộm cắp xe đạp, không hứa hẹn chia tiền để tiêu xài từ việc các bị cáo L, K trộm cắp xe đạp nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với anh Lưu Ngọc L, Nguyễn Thanh T khi mua chim và lồng chim của Nguyễn Hồ Thành L và Nguyễn Phước Q thì anh Luynh, Toàn không biết đó là tài sản do L, Q trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với anh Phạm Trường T, khi Thái Hữu K đưa xe đạp nhãn hiệu FINISS đến bán cho anh Thọ thì anh Thọ không biết tài sản trên do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

- Ngày 12/10/2021 và 03/11/2021 Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại các tài sản: trả 01 con chim chích chòe lửa cho chủ sở hữu là anh Lê Hồng P; 01 con chim chích chòe lửa được nhốt trong 01 lồng tre tròn chiều cao 72cm, 01 lồng tre tròn chiều cao 35cm, 02 con chim vành khuyên được nhốt trong 01 lồng tre tròn chiều cao 35cm, 01 con chim chào mào đít đỏ được nhốt trong 01 lồng gỗ vuông nan tre tròn chiều cao 50cm, 03 con chim cu gáy được nhốt trong 01 lồng Inox tròn chiều cao 30cm cho chủ sở hữu là anh Trần Ngọc D; 01 xe đạp màu xanh đen hiệu Standard Chartered cho cháu Hồ Lê Tiến Đ; 01 xe đạp màu xanh đen hiệu FINISS cho cháu Lê Hồng V. Xét việc trao trả trên là phù hợp, cần chấp nhận.

- Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Hồ Thành L và Nguyễn Phước Q đã thu lợi bất chính là 1.100.000 đồng, do Nguyễn Phước Q không bị xử lý về hình sự nên truy thu của bị cáo Nguyễn Hồ Thành L số tiền 550.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Hồng P, Trần Ngọc D, Lê Hồng V, Hồ Lê Tiến Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lưu Ngọc L, Nguyễn Thanh T, Phạm Trường T không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hồ Thành L, Thái Hữu K phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồ Thành L 09 (Chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28/10/2021.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Thái Hữu K 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Thái Hữu K cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp Hnh hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

*Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 01 con chim chích chòe lửa cho chủ sở hữu là anh Lê Hồng P; 01 con chim chích chòe lửa được nhốt trong 01 lồng tre tròn chiều cao 72cm, 01 lồng tre tròn chiều cao 35cm, 02 con chim vành khuyên được nhốt trong 01 lồng tre tròn chiều cao 35cm, 01 con chim chào mào đít đỏ được nhốt trong 01 lồng gỗ vuông nan tre tròn chiều cao 50cm, 03 con chim cu gáy được nhốt trong 01 lồng Inox tròn chiều cao 30cm cho chủ sở hữu là anh Trần Ngọc D; 01 xe đạp màu xanh đen hiệu Standard Chartered cho cháu Hồ Lê Tiến Đ; 01 xe đạp màu xanh đen hiệu FINISS cho cháu Lê Hồng V là chủ sở hữu hợp pháp.

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Hồ Thành L số tiền 550.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

*Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Hồ Thành L, Thái Hữu K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Nơi gửi:

Cỡ chữ